Thứ Tư, 4 tháng 6, 2014

Quê Choa: Lựa chọn nào cho chúng ta?

Bình Lê Thọ
Việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD 981 trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam thêm một lần nữa cho thấy rõ hơn mưu đồ, tham vọng và dã tâm xâm lược nước ta của nhà cầm quyền Trung Quốc.

Trong thời gian qua dư luận nói chung và giới nghiên cứu nói riêng thường đặt ra nhiều câu hỏi,nhưng tựu trung là hai vấn đề:



(1) Bao giờ Trung Quốc rút giàn khoan HD 981 ra khỏi vùng biển chủ quyền của Việt Nam và (2) Sau khi Trung Quốc rút giàn khoan ra rồi thì Việt Nam sẽ lựa chọn chiến lược đối ngoại như thế nào?
Câu hỏi thứ nhất trả lời rất đơn giản: Trung Quốc sẽ phải rút giàn khoan ra khỏi lãnh hải Việt Nam trước khi mùa bão tới.

Tuy nhiên vấn đề thứ hai trả lời không đơn giản.

Để đi tìm lời giải chúng ta cần nhìn lại lịch sử quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và cách nhìn nhận, xử lý mối quan hệ này như thế nào của các nhà lãnh đạo Việt Nam.

Ở đây không đề cập tới hàng nghìn năm Bắc thuộc và các triều đại phong kiến xâm lược Việt Nam. Chỉ xem xét mối quan hệ hai nước kể từ khi ra đời Nhà nước Việt Nam DCCH và CHND Trung Hoa.
Có thể nói mối quan hệ này có lúc thăng, lúc trầm, lúc ấm, lúc lạnh, nhưng dã tâm xâm chiếm Việt Nam của nhà cầm quyền Trung Quốc chưa bao giờ thay đổi.

Như bao nhiêu bậc quân vương khác, không thể tránh được những mặt mạnh- yếu, hay- dở trong lúc trị vì, nhưng riêng cách nhìn và thái độ đối với người láng giềng phương Bắc, cố TBT Lê Duẩn là vị lãnh đạo kiên quyết và rõ ràng nhất, như bao nhiêu thế hệ ông cha đã từng răn dạy.

Chúng ta hãy nghe ông phát biểu: “Trước khi chúng tôi ra về, Mao gặp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi xuống trò chuyện với chúng tôi và cuối cùng ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn nói cho các đồng chí biết điều này. Tôi sẽ là Chủ tịch của 500 triệu nông dân đang thiếu đất, và tôi sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á“. Đặng Tiểu Bình cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Chủ yếu là vì nông dân nghèo, trong tình cảnh khó khăn cùng cực”. Khi chúng tôi ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Đó, anh thấy đó, âm mưu chiếm nước ta và Đông Nam Á. Bây giờ đã rõ rồi“. Họ dám tuyên bố điều đó như thế. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Đúng là không lúc nào họ không nghĩ đến đánh Việt Nam! Mao còn hỏi tôi: “Ở Lào, có bao nhiêu cây số vuông đất?”. Tôi trả lời: “Khoảng 200.000 cây số vuông”. Mao hỏi: “Dân số của họ bao nhiêu?”. Tôi trả lời: “Khoảng 3 triệu!”. Mao nói: “Như vậy là không nhiều. Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật mà”. Mao lại hỏi: “Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?”. Tôi trả lời: “Khoảng 500.000 cây số vuông”. Mao hỏi: “Có bao nhiêu người?”. Tôi trả lời: “Khoảng 40 triệu!”. Mao nói: “Lạy Chúa! Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông, nhưng có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái Lan”. Đối với Việt Nam, họ không dám nói về việc đưa người tới theo cách này. Tuy nhiên, ông ta (Mao) nói với tôi: “Đồng chí, có đúng là người của các đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta hỏi: “Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta nói: “Và quân Minh nữa, phải không?” Tôi nói: “Đúng, và cả các ông nữa. Tôi đánh các ông luôn. Các ông có biết điều đó không?”. Tôi đã nói với Mao Trạch Đông như thế. Ông ta nói: “Có, có”. Ông ta muốn chiếm Lào, cả Thái Lan, cũng như muốn chiếm tất cả các nước Đông Nam Á. Đưa người dân đến sống ở đó” (Trích từ Bài phát biểu của TBT Lê Duẩn về “tập đoàn phản động Trung Quốc”).(vietinfo.eu)

Có thể nói giai đoạn cuối những năm 70 đầu 80 của Thế kỷ trước quan hệ Việt Nam-Trung Quốc là xấu nhất. Năm 1978, một năm trước khi Trung Quốc đưa quân tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc VN, TBT Lê Duẩn viết: “Phải xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Muốn có hạnh phúc cho nhân dân phải giàu mạnh và hùng cường. Đó là vì vị trí lịch sử và địa dư của Việt Nam. Không thể khác được. Vì chúng ta ở bên cạnh một nước mà lịch sử của nước đó chưa ra khỏi cuộc sống người ăn thịt người”.

Không nghi ngờ gì nữa, đó là ám chỉ tới người láng giềng Trung Quốc, đất nước với lịch sử từng có tập tục “người ăn thịt người” mà chính Văn hào Lỗ Tấn đã đề cập tới nhiều lần trong tiểu thuyết “Nhật ký người điên” nổi tiếng của ông.

Và như chúng ta đã biết, Trung Quốc đã đưa quân tấn công 6 tỉnh biên giới nước ta và hậu quả của nó thật thảm khốc như thế nào thì chúng ta đều biết.

Có thể nói đó là lúc Việt Nam nhìn thấy rõ bản chất thực nhất của Nhà cầm quyền Trung Quốc; các cơ quan: Đảng, Quốc hội, Chính phủ đồng tâm nhất trong cách xác định về Trung Quốc. Thậm chí quan điểm này đã được ghi hẳn trong Hiến pháp: “Vừa trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng, đồng bào ta thiết tha mong muốn có hoà bình để xây dựng Tổ quốc, nhưng lại phải đương đầu với bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng ở Campuchia. Phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân ta đã giành được thắng lợi oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống bọn phản động Campuchia ở biên giới Tây Nam và chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình.” (Trích “Lời nói đầu” của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1980).

Đây thực sự là cơ hội vàng để các nhà lãnh đạo Việt Nam lựa chọn đối tác chiến lược. Lúc ấy có 3 đối tác chiến lược cần lựa chọn: (1) Liên Xô (dễ nhất, nhưng kém hiệu quả nhất), (2) Mỹ (cực khó, nhưng không phải không thể), (3) quay trở lại với Trung Quốc (cực xấu, nhưng an toàn). Và các nhà lãnh đạo Việt Nam đã chọn phương án “dễ nhất”, đồng thời loay hoay mãi rồi cuối cùng lại quay về, tiếc thay, với phương án “cực xấu”. Các cuộc tiếp xúc, cuộc gặp Thành Đô và cuối cùng là Trung Quốc trao cho Việt Nam “16 chữ vàng” và quan hệ hai nước được thiết lập trên nền tảng của “4 tốt”.
Hôm nay Việt Nam chúng ta lại đang đứng trước sự lựa chọn đầy khó khăn! Dẫu cho sự nhìn nhận “kẻ thù Trung Quốc” có phần không quyết liệt và đồng nhất như giai đoạn cuối 70 đầu 80 của thế kỷ trước, nhưng cơ hội lựa chọn đồng minh chiến lược thì lại thuận lợi hơn rất nhiều. Chúng ta không còn buộc phải lựa chọn đồng minh chiến lược “dễ nhất” nữa. Chỉ còn lại 2 kịch bản chính (không nói đến những kịch bản phụ): hoặc là với Mỹ hoặc là lại quay trở lại với... Trung Quốc theo tinh thần “Môi hở, răng lạnh- Máu chảy, ruột mềm”.

Trong một thế giới đầy biến động và nhiều rủi ro như hiện nay thì việc quan hệ hợp tác với các nước trên cơ sở “bình đẳng, đôi bên cùng có lợi” chỉ tồn tại trên lý thuyết (nếu không muốn nói là hão huyền). Ở Châu Á, phát triển và tiềm lực kinh tế mạnh đến như Nhật Bản, Hàn Quốc và ở châu Âu như Pháp và Đức nói riêng và Khối NATO nói chung cũng đều phải liên minh chiến lược với Mỹ, chứ chưa nói gì tới những nước nhỏ và yếu như Philippine.

Tuy nhiên để có thể trở thành đồng minh chiến lược với Mỹ là không hề đơn giản. Điều kiện đưa ra chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới sự lãnh đạo “tuyệt đối và toàn diện”của Đảng cộng sản Việt Nam. Theo sự hiểu biết thiển cận của tôi thì đây chưa phải là lúc Đảng ta sẵn sàng làm việc này.

Vậy sau khi Trung Quốc rút giàn khoan HD 981 ra khỏi vùng lãnh thổ của Việt Nam thì Việt Nam sẽ lựa chọn như thế nào?

Rất tiếc, có thể rất, rất nhiều bạn sẽ phản đối tôi, nhưng thực sự tôi không nhìn thấy khả năng kịch bản thứ nhất sẽ diễn ra!
(Nguồn : Quê Choa: Lựa chọn nào cho chúng ta?: )

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

Định Mệnh Đã An Bài…

Định Mệnh Đã An Bài…
Alan Phan
china landscape
1 June 2014
Tuần rồi tôi nhận khoảng 90 Emails kích bác và 40 bình loạn về sự im lặng của ông già Alan trong tình thế gọi là “biến động” của đất nước. Năm nay tôi đã 69 tuổi. Khó có ai “khích tướng” tôi được. Tuy nhiên, nói như Adlai Stevenson,” I’m too old to cry, but it hurts too much to laugh”.
Vả lại, tôi vừa đọc qua các tuyên bố của thủ lĩnh quân đội Việt Nam, tướng Phùng Thanh. Theo ông, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn rất tốt đẹp, có vài xích mích nhỏ nhưng là chuyện riêng của gia đình, người ngoài không nên “xía mõm” vào (lời nhắc khéo ông Chuck Hagel, bộ trưởng quốc phòng Mỹ). Nếu ông tướng Thanh là người nắm hết các bí mật quốc gia và trách nhiệm về an ninh toàn vẹn lãnh thổ mà ông cho biết vậy, thì chúng ta nên yên tâm ngủ ngon.
Trước đó, thì ngài Vũ Mảo, một quan chức cao cấp khác, cho biết quan điểm của một bộ phận không nhỏ trong chính quyền, là “16 chữ vàng, 4 cái tốt” vẫn là cái “mong muốn muôn thuở” của toàn dân, như bác Hồ đã dầy công vun đắp và phát triển bao năm trời.
Còn về mặt kinh tế thì một ngài bộ trưởng nào đó vừa nói, chuyện Biển Đông nhỏ như con thỏ, không có nhiều ảnh hưởng đến kiến trúc vĩ mô hay FDI. Không những không cần điều chỉnh chính sách, mà chúng ta cứ thế tiến tới như trong vài năm qua, chỉ đến cuối năm là bình minh nở rạng, mang một chu kỳ thịnh vượng mới cho toàn dân Việt.
Tóm lại, mọi việc đã an bài và mọi thứ “hồng” như ngày đại thắng 1975. Các bạn BCA không nên nhốn nháo mà hỏi, “từ bên Mỹ, bác thấy thế nào, quê hương chúng ta sẽ đi về đâu?” Các bạn cứ nghiêm chỉnh học tập tấm gương đạo đức của bác Mao, bác Stalin, bác Hồ… một ngày gần đây thôi, các bạn sẽ được đến đích cùng với các bác.
Do đó, dù muốn nói chuyện chánh trị, tôi cũng không có gì để bàn thêm. Khi một đất nước tự sướng về chỉ số hạnh phúc như Việt Nam, thì mọi vấn đề chính trị coi như đã biến mất (literally). Kể cà các thế lực thù địch từ Đông Tây Nam Bắc. Trong khi các quan đang ăn nhậu vui mừng, đừng ai lăng nhăng gây áp lực, quấy rối (lời ông tướng Thanh).
Nói cho cùng, mọi chuyện của chúng ta đều là “viễn vông” hết mà. Theo các triết gia, đời người như bóng câu, chẳng mấy chốc, ta lại mừng 100 năm của “hoang tưởng” và “dối trá”.
Alan Phan
PS. Tôi cũng vừa đọc rằng “16 chữ vàng” thực sự là do Trung Quốc trao cho Việt Nam. Nguyên văn là “ sơn thuỷ tương liên, lý tưởng tương thông, văn hóa tương đồng, vận mệnh tương quan”. Khi các bác Việt dịch ra thì xoá trệch cho nhẹ đi thành “”Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” “. Muốn cho chính xác thì phải rõ ràng hơn. Chúng ta như  “sông núi gắn liền, cùng chung lý tưởng, hoà nhập văn hoá, có chung định mệnh…”
Lời nói này không khác gì một thề thốt trăm năm từ cửa miệng của những cặp vợ chồng trong ngày cưới, hay con cái với cha mẹ khi lớn lên, hay học trò với sư phụ khi quy phục. Nó không chỉ là một công hàm của vài ông quan, nó còn là một  “uống máu ăn thề” của giới giang hồ, thể hiện một văn hoá rất sống thực.
Do đó, kết luận của tôi là trong mọi lình xình của những tuần vừa qua, những người mang nặng viển vông và hoang tưởng nhất là nhóm lãnh đạo trong chính phủ Obama.
nguon : http://www.gocnhinalan.com/blog-cua-alan-va-bca/dinh-menh-da-an-bai.html

Quê Choa: Quốc hội bàn chuyện thoát Trung!?

Quê Choa: Quốc hội bàn chuyện thoát Trung!?: Huỳnh Ngọc Chênh Theo blog Huỳnh Ngọc Chênh   Đến khi Tàu cộng cắm giàn khoan vào lãnh hải VN thì Quốc hội VN mới bàn đến chuyện tho...

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Hậu Shangri-la: Trung Quốc chà đạp lên dư luận quốc tế thực hiện tham vọng

VOV.VN - Giới phân tích cho rằng, tại thời điểm này, những chỉ trích sẽ không thể ngăn chặn được tham vọng Trung Quốc.
Nắm bắt cơ hội khi có tiếng nói cuối cùng trong khuôn khổ Đối thoại Shangri-La, Trung tướng Vương Quán Trung, phó Tổng tham mưu Quân đội Trung Quốc đã lên tiếng chỉ trích Nhật Bản và Mỹ đang có những hành động “mang đậm bản chất của hệ tư tưởng bá quyền”.

Tướng Vương Quán Trung nói rằng, các bình luận trước đó của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel là “không thể chấp nhận được” vì đã “khiêu khích” Bắc Kinh.
Ông Vương Quán Trung, phó Tổng tham mưu Quân đội Trung Quốc (Ảnh: Reuters)
Trung Quốc tiếp tục “già mồm”
Theo ông Vương Quán Trung, Thủ tướng Nhật Bản Abe và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Hagel đã “phối hợp và khuyến khích nhau” tấn công Trung Quốc tại Đối thoại Shangri-la – một diễn đàn an ninh khu vực thu hút sự quan tâm rất lớn của dư luận quốc tế sau những căng thẳng gia tăng giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines ở Biển Đông, giữa Trung Quốc với Nhật Bản ở biển Hoa Đông.
Ông Vương nói: “Tôi có cảm tưởng rằng ông Abe và ông Hagel đang hòa giọng hợp xướng với nhau. Họ đang phối hợp, thông đồng và tận dụng các cơ hội phát biểu tại diễn đàn Shangri-la để khởi xướng việc khiêu khích và thách thức Trung Quốc”.
Theo giới phân tích, dường như những phát biểu trên của Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc không nằm trong nội dung bài diễn văn đã được chuẩn bị sẵn. Điều này cho thấy cá nhân ông Vương nói riêng, giới quân đội và lãnh đạo Trung Quốc nói chung đang thực sự lúng túng trước những phản ứng của cộng đồng quốc tế, phản đối những hành động gây hấn ngang ngược của Trung Quốc trong khu vực.
Tại Đối thoại Shangri-la 13, trong khi Mỹ cử Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel cùng một số tướng lĩnh hàng đầu tham dự, Nhật Bản có đại diện là Thủ tướng Thủ tướng Shinzo Abe và Bộ trưởng Quốc phòng Itsunori Onodera thì Trung Quốc lại không có quan chức quốc phòng hàng đầu tham dự.
Thay vào đó, Trung Quốc cử một đoàn bao gồm các học giả thông thạo tiếng Anh và các quan chức có kinh nghiệm trong lĩnh vực tuyên truyền đối ngoại. Dẫn đầu đoàn Trung Quốc tham dự Đối thoại Shangri-la là Trung tướng Vương Quán Trung – một vị tướng giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực tuyên truyền.
Theo Mark Stokes, một chuyên gia phân tích quân sự Trung Quốc tại Viện Dự án 2049, sự hiện diện của Trung tướng Vương Quán Trung – một trong những nhân vật tài năng nhất trong chiến lược chiến tranh chính trị của quân đội Trung Quốc được kỳ vọng sẽ giúp Trung Quốc cân bằng được lợi thế ở Shangri-la 13.
Mặc dù vậy, bài phát biểu của ông Vương Quán Trung ngoài việc tập trung công kích Mỹ và Nhật Bản cũng như tiếp tục đưa ra những thông điệp hòa bình, tốt đẹp sáo rỗng như: Trung Quốc cam kết xây dựng châu Á hài hòa, một thế giới hòa bình lâu dài và thịnh vượng chung… đã không để lại bất kỳ một dấu ấn nào.
Thậm chí, tờ Christian Science Monitor còn có bình luận cho rằng, những phát biểu của ông Vương Quán Trung đã phá hỏng bầu không khí đối thoại, tăng cường hiểu biết lẫn nhau để giảm bớt căng thẳng trong khu vực.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel nhấn mạnh rằng, Washington sẽ không ngồi yên khi trật tự thế giới bị đe dọa (Ảnh: AFP)
Chuyên gia Christian Le Miere của Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS), đơn vị tổ chức Đối thoại Shangri-la nhận định: “Một điều thấy rõ nhất là sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa Mỹ và Trung Quốc tại khu vực. Và giờ Nhật Bản cũng tích cực hơn trong việc tham gia an ninh khu vực. Căng thẳng trên biển đang xảy ra nhưng khó có thể hiểu sao phía Trung Quốc lại tỏ ra cộc cằn đến như vậy. Có lẽ vì họ bị phê phán quá nhiều tại cuộc đối thoại lần này”.
Nhà phân tích Bonnie Glaser của Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) đánh giá: “Có lẽ phần tuyên bố của tướng Vương chủ yếu nhắm vào khán giả trong nước ở Trung Quốc nhiều hơn. Tôi nghĩ năm nay họ đã bị chỉ trích quá nhiều tại đối thoại. Tôi thấy rất đáng tiếc là tướng Vương đã không trả lời được nhiều câu hỏi. Ông ta dành đến 10 phút lòng vòng để nói về đường 9 đoạn nhưng không giải thích được cuối cùng nó là cái gì”.
Không có lửa làm sao có khói?
Trung Quốc đưa ra tuyên bố như thể họ đang là nạn nhân bị hướng mũi dùi công kích của dư luận quốc tế một cách vô lý và luôn nói rằng nước này đang trỗi dậy hòa bình, sẵn sàng hợp tác với các nước vì hòa bình và ổn định trong khu vực.
Tuy nhiên, nếu nhìn vào hành động thực tế của Bắc Kinh ở cả Hoa Đông và Biển Đông, người ta khó có thể tin vào những lời hoa mỹ của các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Việc Trung Quốc hết lần này đến lần khác “làm mất lòng tin” của các quốc gia láng giềng cũng như của cộng đồng quốc tế là căn nguyên chính khiến họ ngày càng bị cô lập, chỉ trích nặng nề.
Trong bài phát biểu tại phiên khai mạc Đối thoại Shangri-la hôm 30/5, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã lên án các hành vi của Trung Quốc, đồng thời vạch ra kế hoạch tăng cường vai trò mạnh mẽ của quân đội Nhật Bản trong giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở khu vực. Ông cũng đưa ra đề nghị cung cấp tàu tuần duyên cho các nước láng giềng để nâng cao năng lực đối phó với các chiến thuật gây hấn của Bắc Kinh.
Sau đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel cũng đã lên tiếng nhấn mạnh rằng, Washington sẽ không ngồi yên khi trật tự thế giới bị đe dọa và có bất kỳ quốc gia nào phớt lờ luật pháp quốc tế. Ông Hagel kêu gọi các nước tìm kiếm giải pháp hòa bình cho những tranh chấp quốc tế, đồng thời tái khẳng định những cam kết của Mỹ với các đồng minh và những người bạn ở châu Á.
Khẳng định Mỹ không đứng về nước nào trong tranh chấp chủ quyền trên biển nhưng ông Hagel cũng nhấn mạnh Mỹ phản đối mạnh mẽ bất kỳ quốc gia nào sử dụng biện pháp hăm dọa, ép buộc hay đe dọa dùng vũ lực để khẳng định những tuyên bố chủ quyền trên biển.
Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe có bài phát biểu quan trọng tại phiên khai mạc Đối thoại Shangri-la 13 (Ảnh: EPA)
Theo ông Hagel, trong những tháng gần đây Trung Quốc đã thực hiện những hành động đơn phương, gây bất ổn bằng việc đòi chủ quyền ở biển Đông. Ông Hagel còn cáo buộc Trung Quốc ngăn chặn Philippines tiếp cận bãi cạn Scarborough. Song song với đó, Trung Quốc có những động thái cải tạo đất đai ở một số khu vực thuộc biển Đông và hạ đặt giàn khoan trái phép vào vùng đặc quyền kinh và thềm lục địa của Việt Nam.
Bộ trưởng Quốc phòng Australia, David Johnston cũng bày tỏ chia sẻ mối quan ngại với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 13 về việc Trung Quốc có những hành động gây bất ổn trên Biển Đông.
Bộ trưởng Johnston đưa ra lập trường trên sau khi ông Hagel cáo buộc Trung Quốc có hành động “đơn phương, gây bất ổn,” đặc biệt với việc Bắc Kinh hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 trái phép trong Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. 
Ông nhấn mạnh: “Đây là hành động làm bất ổn tại một khu vực có khả năng mang lại sự thịnh vượng to lớn cho các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương. Sự mất ổn định này đang thực sự hủy hoại triển vọng kinh tế. Bởi vậy, tôi chia sẻ mối quan ngại của Bộ trưởng Chuck Hagel.”
Ông Johnston cho biết thêm Australia sẽ thuyết phục Trung Quốc rằng còn có “con đường khác” không gây nguy cơ đối đầu và leo thang căng thẳng trên biển. 
Trung Quốc bỏ qua dư luận quốc tế để thực hiện mưu đồ?
Những tuyên bố và động thái gần đây cho thấy, Trung Quốc đang ngày càng “cảm thấy thoải mái” với ý tưởng rằng họ là sức mạnh hàng đầu châu Á, hoặc ít nhất là nên được Mỹ nhìn nhận một cách công bằng. Có thể là Trung Quốc đang cố để thể hiện rằng, Mỹ sẽ không thể làm gì để ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Giáo sư Hugh White, chuyên gia nghiên cứu chiến lược tại Đại học Quốc gia Australia nói: “Trung Quốc đang tìm cách nâng cao tầm ảnh hưởng một cách liều lĩnh. Những gì chúng ta đang được chứng kiến là sự gia tăng ổn định không chỉ các lời lẽ gây hấn mà còn là hành động cạnh tranh chiến lược”.
Tàu Trung Quốc sử dụng vòi rồng tấn công tàu Việt Nam (Ảnh: AP)
Ông White nói thêm: “Có thể nói bây giờ họ (Trung Quốc) đang hành xử với ảo tưởng về sức mạnh, quyền lực. Họ tự cho mình cái quyền trở thành một ngoại lệ, không cần phải tuân thủ bất kỳ một quy tắc hay chuẩn mực pháp lý nào cả”.
Rory Medcalf, Giám đốc Chương trình An ninh Quốc tế tại Viện Lowy, Australia nhận định: “Trung Quốc không mạnh như họ nghĩ, họ đang ảo tưởng về vị thế của mình. Hành động gây hấn của họ không chỉ khiến các nước khác liên minh lại với nhau để chống lại mà còn khiến cho Mỹ dễ dàng biện minh cho chiến lược tái cân bằng ở châu Á – Thái Bình Dương”.
Điều này không còn là mối đe dọa tiềm ẩn mà đã và đang dần trở thành mối lo mới với Bắc Kinh. Cụ thể, trong bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-la hôm 30/5, Thủ tướng Nhật Shinzo Abe cho biết đã cung cấp ba tàu tàu tuần tra mới cho Indonesia và vừa quyết định chuyển 10 tàu tương tự cho Philippines. "Nhật Bản sẽ tiếp tục hành động này đồng thời thực hiện các cuộc khảo sát cần thiết trước khi đưa tàu đến Việt Nam".
Trước đó, Mỹ và Philippines cũng đã ký một thỏa thuận để tăng cường sự hiện diện của lực lượng Mỹ tại Philippines. Thời gian gần đây, Mỹ cũng đã bày tỏ thiện chí tăng cường hợp tác với Việt Nam cùng các đối tác khác trong khu vực.
Mặc dù vậy, theo ông Ian Storey, một thành viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore cho rằng, tại thời điểm này, những chỉ trích sẽ không ngăn chặn được tham vọng Trung Quốc.
Theo giới phân tích, sở dĩ Trung Quốc lựa chọn cách tiếp cận quyết đoán hơn với các vấn đề tranh chấp lãnh thổ là để “cố thể hiện mình” như là một đối thủ xứng tầm với Mỹ. Tham vọng này của Trung Quốc được thúc đẩy bởi lo ngại rằng, cơ hội có thể sẽ không kéo dài nếu nền kinh tế của nước này tiếp tục tăng trưởng chậm lại và nếu chính quyền hậu Tổng thống Obama có một lập trường cứng rắn hơn với Bắc Kinh./.
Hùng Cường/VOV online
Nguồn : http://vov.vn/The-gioi/Quan-sat/Hau-Shangrila-Trung-Quoc-cha-dap-len-du-luan-quoc-te-thuc-hien-tham-vong/329900.vov:

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

TỄU - BLOG: Nguyễn Gia Hảo: CHIẾC LÁ NHO CHE SAO NỔI VẾT NHƠ L...

TỄU - BLOG: Nguyễn Gia Hảo: CHIẾC LÁ NHO CHE SAO NỔI VẾT NHƠ L...: CHIẾC LÁ NHO CHE SAO NỔI VẾT NHƠ LỊCH SỬ Dân Quyền:  B ài này ông Nguyễn Gia Hảo, cựu thành viên của Ban Nghiên cứu Thủ tướng, phu qu...

Quê Choa: Việt Nam - Trung Quốc, một lịch sử đau thương!

Lãng
Lịch sử bang giao giữa Việt Nam với Trung Quốc là một trường hợp độc nhất vô nhị trong lịch sử nhân loại. Nó được phủ bóng với một độ dày đặc của các cuộc chiến xâm lược (từ Trung Quốc) và chống xâm lược (từ Việt Nam), với một tần suất mà không có bất kỳ trường hợp nào khác có thể so sánh.

Tính từ thế kỷ thứ 10 đến nay, không dưới 10 lần người Việt phải chịu đựng các cuộc tiến công xâm lăng từ phương Bắc. Năm 938 Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Người Việt được hưởng hoà bình ít năm, cho đến năm 981, Lê Hoàn phá tan quân Tống. Sang thế kỷ thứ 11, Lý Thường Kiệt mang quân đại phá Ung Châu và lui về đắp lũy trên sông Như Nguyệt. Chiến thắng này của nhà Lý mang lại hoà bình cho Việt Nam đến thế kỷ thứ 13. Từ năm 1258 đến 1288, trong ngắn ngửi có 30 năm, người Việt Nam phải hứng chịu ba cuộc xâm lược tàn bạo đến từ Trung Quốc. Đạo quân xâm lược từ phương Bắc quay lại vào năm 1404. Lần này phải mất 23 năm, đến năm 1427 người Việt mới giành lại được độc lập dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi. Đây cũng là lần xâm lược để lại hậu quả đau thương nhất cho văn minh người Việt, khi Trung Quốc thực hiện việc đốt phá kinh sách, đập phá văn bia trong suốt những năm chiếm đóng nhằm hủy diệt văn hoá và đồng hoá Việt Nam. Sang thế kỷ thứ 18, Trung Quốc một lần nữa xua quân chiếm kinh đô Thăng Long. Lần này chúng gặp một đối thủ cứng cựa là vua Quang Trung, nên bị đánh tan tác và phải tháo chạy về nước sau ít tháng. Cuộc đô hộ 80 năm của Pháp ở Việt Nam khiến các đạo quân xâm lăng phương Bắc bị gián đoạn trong một khoảng thời gian. Đến năm 1974, chúng quay lại chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa. Năm năm sau đó, 30 vạn quân Trung Quốc tràn xuống phía Bắc. Bị chặn lại và phải tháo lui, tuy nhiên tình trạng chiến tranh còn bị duy trì đến tận những năm 1990. Năm 1988, Trung Quốc xua hải quân chiếm đóng một phần Trường Sa. Đến năm 2014, Trung Quốc xua hạm đội và giàn khoan cắm sâu vào lãnh hải Việt Nam, trong một mưu đồ xâm lăng không hề che dấu.

Có thể nói, ý đồ Nam tiến của Trung Quốc, chưa bao giờ phai nhạt trong suốt lịch sử tồn tại của nó và gần như là một mục tiêu xuyên suốt và luôn được kế thừa bởi mọi triều đại nắm quyền tại Bắc Kinh. Ở đây có một liên tưởng lịch sử khá khôi hài là Trung Quốc nhiều lần lớn tiến đòi Nhật Bản phải hối lỗi về quá khứ xâm lăng trong thế chiến thứ hai. Nhật chiếm đóng Trung Quốc đến nay chỉ duy nhất có một lần. Trong khi nếu nhìn vào mật độ dày đặc của các cuộc chiến xâm lược Trung Quốc tiến hành với Việt Nam, có thể nói đất nước có ít tư cách đòi hỏi người khác phải hối lỗi vì chiến tranh nhất chính là Trung Quốc.

Hầu hết các nước châu Á sống cạnh Trung Quốc đều đối mặt với nguy cơ bị xâm lược. Họ chỉ thoát khỏi bóng ma ám ảnh này khi thật sự mạnh lên và thành công trong tiến trình hội nhập với nền văn minh phương tây. Ngày nay, dù phải đối mặt với một vài nguy cơ xung đột về lãnh hải, nhưng Nhật. Bản và Hàn Quốc đều khá an toàn với niềm lực kinh tế hùng hậu và những mối quan hệ đồng minh thân thiết giúp đảm bảo an ninh. Ngược lại, quốc gia đang đứng trước nguy cơ bị xâm lăng (về lãnh thổ) và thôn tính (về mặt kinh tế) nặng nề nhất tại Á Châu chính là Việt Nam. Có thể nói, chưa bao giờ tương lai của người dân Việt Nam bị đe dọa và thách thức như hiện nay, khi trên biển giàn khoan và hạm đội Trung Quốc đang ngày một tiến sâu vào lãnh hải Việt Nam, còn về mặt kinh tế, Trung Quốc gần như đã biến Việt Nam thành một nền kinh tế phái sinh, lệ thuộc nặng nề và trở thành một công cụ giúp Trung Quốc gia tăng trên 20 tỷ USD thặng dư thương mại hàng năm.

Trong bối cảnh ấy, cơ may cho Việt Nam đến từ Shangri-La, một hội nghị an ninh toàn cầu được tổ chức tại Singapore, nơi Trung Quốc phai chịu những đòn lên án nặng nề từ hầu hết các nước tham dự, do dã tâm xâm lược của nó. Việt Nam đến hội nghị với sự dẫn đoàn của ông Phùng Quang Thanh, đương kim bộ trưởng Quốc Phòng. Thông điệp của ông Thanh khá mù mờ và méo mó, khiến nhiều nước tham dự hội nghị không rõ Việt Nam đang thực sự muốn gì. Dường như xuyên suốt tham luận của ông Thanh, chỉ là mong muốn Trung Quốc kéo giàn khoan về, còn mọi thực trạng giữa Trung Quốc với Việt Nam hiện tại đều đáng hài lòng, như nhận xét ông ta nhiều lần nhất mạnh. Vị đại tướng béo tốt này có vẻ không tính đến thực tế bất lợi gần như tuyệt đối trong giao thương với Trung Quốc của Việt Nam hiện nay. Ông ta có vẻ cũng không tính tới thực tế là nhiều quốc gia khác đang muốn liên minh hay hỗ trợ Việt Nam, sẽ phai e ngại thực tế bị Việt Nam bán đứng nếu Trung Quốc chìa tay ra giúp xoa dịu để Việt Nam duy trì nguyên trạng sau khi đọc diễn văn của ông ta tại hội nghị. Cảm giác rõ nét nhất là tính rối rắm trong thông điệp của ông Thanh. Có thể nói viên tướng béo tốt này có ít khí chất của một quân nhân nhất so với những người tiền nhiệm của ông ta, vốn đều từng được tôi luyện trong các cuộc chiến chống ngoại xâm liên tiếp của Việt Nam trong thế kỷ 20.

Nếu ông Thanh muốn gửi đến Trung Quốc một thông điệp mềm mỏng có phần quỵ lụy, ông ta đã làm tốt và thành công vượt mức mong đợi. Ngược lại, những quốc gia đang trông đợi ở Việt Nam một thông điệp ngoại giao đơn giản và rõ ràng, ít nhiều sẽ thất vọng. Chắc chắn họ se phải tính toán kỹ trong bài toán liên minh hay trợ giúp Việt Nam, vì nếu lịch sử Việt Nam lừng tiếng với những vị tướng chống ngoại xâm, thì nó cũng có không ít vết đen bởi những cái tên bán nước như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống hay mới đây hơn là Hoàng Văn Hoan.

Trong những ngày gần đây, có lẽ thứ đang được nhắc đến nhiều nhất ở Việt Nam, là hai câu hỏi: Làm sao để Trung Quốc rút giàn khoan? Và làm sao thoát Khựa?

Nếu câu hỏi thứ nhất là dễ trả lời bởi kiểu gì Trung Quốc cũng sẽ rút trước mùa bão năm nay. Nhưng chúng sẽ quay lại, đông hơn, mạnh hơn nếu người Việt không trả lời được câu hỏi thứ hai: Làm sao thoát Khựa? Thoát về kinh tế, thoát về ngoại giao, thoát về bản sắc văn hoá, thoát về chính trị và đương nhiên mạnh mẽ về quân sự để tự bảo vệ được mình.

Có khá nhiều ý kiến và tranh luận sôi nổi của giới trí thức Việt Nam, những người có tầm nhìn xa, về các giải pháp để thoát dần khỏi sự lệ thuộc kinh tế, về các cải cách cần thiết đối với hệ thống chính trị, về các mối liên minh chính trị, quân sự, ngoại giao tiềm năng... Hầu hết đều nói đúng, nhưng thứ quan trọng nhất thì không thấy ai đề cập đến: Ai sẽ làm, hoặc cho phép làm tất cả những giải pháp và định hướng đúng đắn ấy?

Câu chuyện quay ngược trở về xuất phát điểm ban đầu: Mục tiêu của chế độ chính trị Việt Nam hiện nay, họ đang muốn cái gì?

Họ muốn đất nước đi lên? Họ muốn Việt Nam độc lập, hùng mạnh? Hay đơn giản là mong muốn duy trì quyền cai trị và đặc lợi càng lâu càng tốt?

Trong hai mươi năm qua, có thể nói chế độ chính trị Việt Nam rất thành công khi củng cố quyền cai trị tuyệt đối trên một nền tảng hủ bại về lý tưởng. Kết quả là Việt Nam có một nền kinh tế ì ạch rất nhiều so với tiềm năng, mức độ tham nhũng gia tăng theo cấp số và kinh tế ngày một lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc. Nếu chế độ chính trị của Việt Nam vẫn tiếp tục như hiện nay, tương lai tất yếu của chúng ta sẽ là Tân Cương hay Tây Tạng. Lối thoát duy nhất, là những cải cách cần thiết để Việt Nam thoát Khựa thành công, là sự gắn kết về kinh tế, chính trị, văn hoá với Nhật, Mỹ và Phương Tây.
Nếu có điều gì người Việt cần phải làm trong thời khắc sống còn này, chính là làm mọi điều có thể để biến cái mong muốn đó thành hiện thực.
Xem nguồn : Quê Choa !



Và dưới đây là lý luận của kẻ muốn bợ đở ngu lâu :

Văn Minh - Phản biện bài Việt Nam và Trung Quốc: Một lịch sử đau thương

Lãng quá dốt về lịch sử!
Hãy đọc Đại Việt Sử Ký Toàn Thư để hiểu cho đúng lịch sử dân tộc - không phải chỉ để giải quyết mâu thuẫn hiện tại mà còn vì tương lai của các thế hệ người Việt sau này.
Lịch sử cận đại Việt Nam - Trung Quốc mới là lịch sử đau thương bởi vì phương Tây, Thiên Chúa Giáo và các trí thức Tây học không ngừng tìm mọi cách để cắt đứt mọi mối liên hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc.
Họ đã rất thành công trong việc thay toàn bộ hệ thống chữ viết Hán Nôm bằng chữ La Tinh khiến đa phần người Việt giờ không có khả năng biết cha ông trước kia đã viết những gì. Tiếp đó, vì mục tiêu độc lập đánh đuổi Pháp, các trí thức Tây học đã gieo vào lòng người Việt huyền thoại hàng ngàn năm liên tục đánh đuổi quân Trung Quốc xâm lược, vì nền độc lập dân tộc, với những chiến công huy hoàng.
Chính sử của Việt Nam thực ra không viết như vậy. Chính sử của Việt Nam tôn thờ tinh thần độc lập, nhưng không tô vẽ Trung Quốc như con ngáo ộp, như kẻ luôn có dã tâm xâm lược, chiếm đóng Việt Nam. Triều đình, giới quý tộc, trí thức Việt Nam, càng về trước càng có xuất thân là dân di cư từ Trung Quốc. Văn hóa, cách suy nghĩ, cách tổ chức xã hội, văn tự của Việt Nam đến tận đầu thế kỷ 20 vẫn thấm đẫm chất Trung Hoa. Người Hoa sang Việt Nam trở thành người Việt Nam, tạo ra bao nhiêu ngành nghề, đem lại sự thịnh vượng cho Việt Nam. Họ góp phần giúp Việt Nam, từ một mảnh đất nhỏ xíu vùng đồng bằng sông Hồng, thường xuyên bị cướp bóc, mở rộng liên tục thành một quốc gia hùng mạnh chiếm trọn bờ biển Đông.
Việt Nam với Trung Quốc thực sự là hai quốc gia anh em - ít ra đến đầu thế kỷ 20. Mọi người hãy đọc lại cho kỹ chính sử của đất nước; hãy đọc lại cho kỹ những gì cha ông đã viết để hiểu rõ nguồn gốc và sự tương đồng giữa hai dân tộc. Hãy đọc sử để hiểu rõ người Trung Quốc thực sự tôn trọng sự độc lập của Việt Nam ít nhất hàng trăm năm nay sau sự can thiệp của nhà Minh thời Hồ.
Chúng ta chắc chắn sẽ hy sinh tất cả để bảo vệ độc lập dân tộc. Nhưng mọi người chúng ta cần thật tỉnh táo để không rơi vào những cái bẫy khích bác mà kẻ khác dựng lên, trong 100 năm nay, chỉ để tạo nên hiềm khích Việt Trung, chỉ để làm Việt Nam trở nên thật đối chọi với Trung Quốc.
Từ một mảnh đất nhỏ bé, là thuộc địa của Trung Quốc, tổ tông chúng ta, với nhiều người xuất thân là người Trung Quốc, đã gây dựng lên một quốc gia giống Trung Quốc nhưng càng ngày càng độc lập với Trung Quốc, hùng cứ một phương kể cả khi Trung Quốc đang là một quốc gia đứng đầu thế giới, mà không cần phải liên minh với bất kỳ quốc gia nào khác, kể cả kẻ thù của Trung Quốc.
Vậy thì lý do gì để Việt Nam phải sợ sẽ trở lại thành "tỉnh lỵ" của Trung Quốc như ngày xưa, ở giữa thế kỷ 21 này?
Lý do gì để chúng ta phải lo sợ Trung Quốc đến mức phải kết đồng minh với những nước hiện đang là kẻ thù tiềm tàng của Trung Quốc, chỉ để ảo vọng rằng sức mạnh các nước kia sẽ giúp chúng ta chống lại sự "đe dọa, xâm lăng" từ Trung Quốc?
Sức mạnh lịch sử, truyền thống của Việt Nam đủ để giữ Việt Nam độc lập bất chấp kẻ thù là ai. Lo sợ Trung Quốc chiếm đoạt, đô hộ Việt Nam - như ý của Lãng đây - là sự lo sợ hão huyền, không hề có thực, và không bao giờ có thể thành hiện thực.
Dù vậy, bắt tay với những kẻ thù tiềm tàng của Trung Quốc hiện nay sẽ ngay lập tức đầu độc thêm mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, vốn đã bị tổn thương quá nhiều bởi những sự chia rẽ có chủ ý trong 100 năm gần đây.
Việt Nam sẽ được gì từ sự bắt tay này? trở thành một Hàn Quốc hay Nhật Bản mới chăng vì sự trợ giúp của các nước đồng minh? Chưa chắc. Hãy nhìn Philippines cho rõ. Trở thành đồng minh không có nhiều ý nghĩa. Vấn đề cơ bản là khả năng sống và làm việc có kỷ luật của bản thân người Việt. Còn sống và làm việc vô kỷ luật như hiện nay, Việt Nam sẽ mãi là nước tụt hậu và phụ thuộc dù có bang giao với bất cứ nước nào.
Tuy vậy, việc bắt tay này sẽ tạo ra vành đai bao vây TQ, trong đó VN là mắt xích yếu nhất. Nếu xung đột xảy ra, xung đột sẽ tập trung tại nơi mắt xích yếu nhất này là VN. Có ai trong chúng ta muốn sau này VN sẽ trở thành bãi chiến trường cho TQ và các nước bao vây TQ thi thố vũ khí không? có ai muốn người VN sẽ bị cuốn vào cuộc chiến vô nghĩa nữa không?
Đừng thấy Mỹ Nhật sốt sắng về biển Đông mà cho rằng họ tử tế với VN, rằng đây là cơ hội "thoát Trung".
Thoát Trung hay không thoát Trung không quan trọng. Quan trọng là thoát ra khỏi những sự trì trệ yếu kém của chính mình. Trong khi đang trong quá trình tự vượt lên chính các hạn chế của bản thân, chúng ta tuyệt đối cần cảnh giác không để mình bị cuốn vào các toan tính của những nước lớn bởi cái giá phải trả sẽ không hề nhỏ.
Cuối cùng, cần phải thấy mối quan hệ Việt - Trung đã và đang là mối quan hệ bị đầu độc. Không ít người Việt Nam và Trung Quốc đang nhìn nhau qua những lăng kính bị bóp méo có chủ đích. Trong khi thực tế, Việt Nam thực sự cần Trung Quốc cũng như Trung Quốc cần Việt Nam.
Cọp từ /www.danluan.org/tin-tuc/20140601/van-minh-phan-bien-bai-viet-nam-va-trung-quoc-mot-lich-su-dau-thuong

Chính khách lớn liệu có quyền trơ trẽn?


Tạ Duy Anh 
Không ai nghi ngờ ông Tập Cận Bình, người đứng đầu một cường quốc, không phải là một chính khách lớn. Dám nghĩ tới một “Giấc mơ Trung Hoa” đề cao sức mạnh cơ bắp, dù nghe có vẻ hài hước và kệch cỡm khi đặt cạnh “Giấc mơ Mỹ”, nhưng không là người đủ tự tin vào vai trò chính khách lớn của mình, chắc sẽ không dám nói như vậy. 
xem nguồn !: