Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Đấu tranh lấy lại Hoàng Sa

02/07/2014 08:10 (GMT + 7)
TT - “Trung Quốc có ý đồ muốn hiện thực hóa đường lưỡi bò, độc chiếm biển Đông, muốn khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc. Chúng ta khẳng định rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại cuộc tiếp xúc cử tri quận Tây Hồ (Hà Nội) sáng 1-7 - Ảnh: Nguyễn Khánh


Hoàng Sa thì trên thực tế Trung Quốc đang chiếm giữ trái phép, họ đã hai lần đánh chiếm Hoàng Sa và lần gần nhất là năm 1974. Chúng ta tiếp tục khẳng định chủ quyền, đấu tranh để lấy lại Hoàng Sa”.
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu như thế trước đông đảo cử tri quận Tây Hồ (Hà Nội) trong cuộc tiếp xúc ngày 1-7.
Mỗi đảo là một pháo đài
Phải chuẩn bị mọi khả năng
“Chúng ta chủ trương đấu tranh bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, thỏa thuận cấp cao giữa hai nước. Chúng ta sử dụng tất cả các biện pháp hòa bình, kể cả đấu tranh pháp lý. Có người hỏi nhỡ xảy ra chiến tranh thì sao? Thì chúng ta phải chuẩn bị tất cả mọi khả năng. Chúng ta mong chiến tranh không xảy ra và cố gắng làm cho nó đừng xảy ra”.
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng
Xin được bày tỏ ý kiến về việc Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt giàn khoan vào vùng thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cử tri Phạm Văn Tá đề nghị Đảng, Nhà nước tiếp tục thực hiện các giải pháp mạnh mẽ “yêu cầu Trung Quốc không được vi phạm chủ quyền Việt Nam”.
Theo ông Tá, hơn lúc nào hết, toàn dân cần phải đoàn kết đấu tranh làm thất bại âm mưu bá quyền của Trung Quốc.
“Đây là cuộc đấu tranh lâu dài. Chúng ta phải làm cho nhân dân thế giới hiểu rằng hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, đã được Việt Nam quản lý từ lâu đời. Cần ôn lại ý chí dân tộc 4.000 năm lịch sử, với chiến thắng Bạch Đằng, Đống Đa... và gần đây nhất là đánh bại quân Trung Quốc xâm lược biên giới năm 1979” - ông Tá nói.
Theo cử tri Tá, hướng về biển Đông thì phải có hành động cụ thể để ủng hộ đồng bào, chiến sĩ Trường Sa, ủng hộ các chiến sĩ đang đấu tranh ngoài thực địa Hoàng Sa. Tiết kiệm chi tiêu, giảm bớt hội họp không cần thiết để dành tiền hỗ trợ ngư dân bám biển. Tuyên truyền làm cho Trung Quốc nhận ra lẽ phải, biết việc mình đang làm là xấu và phải rút đi.
“Bác Hồ nói: Dễ trăm lần không dân cũng chịu/Khó vạn lần dân liệu cũng xong. Biết dựa vào sức dân thì chúng ta sẽ thắng. Các đảo, cụm đảo ngoài biển Đông phải trở thành các pháo đài chống lại sự bành trướng của Trung Quốc” - ông Tá bày tỏ.
“Chúng ta đã thấy được âm mưu lâu dài của bọn bá quyền Trung Quốc hòng thôn tính nước ta. Trung Quốc đã biến ta từ bạn thành thù, ta phải có thái độ kiên quyết hơn. Chúng ta cần tuyên truyền để nhân dân ta không mắc mưu Trung Quốc” - cử tri Bùi Đức Thập lên tiếng.
Ông đề nghị cần tuyên truyền mạnh mẽ hơn, bằng nhiều kênh khác nhau, phải gửi công hàm đi toàn thế giới để các nước và nhân dân toàn thế giới biết bộ mặt thật của Trung Quốc.
Về mặt pháp lý thì phải kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Trong nước thì tiết kiệm, chống lãng phí để có tiền đóng nhiều tàu to hơn, lớn hơn cho hải quân ta bảo vệ Trường Sa, Hoàng Sa.
“Không ai chọn được láng giềng”
Cảm ơn cử tri đã tin tưởng, ủng hộ chủ trương, giải pháp của Đảng và Nhà nước trước tình hình phức tạp ở biển Đông, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định đây là vấn đề hệ trọng, nhạy cảm, được toàn dân ta và trên thế giới cùng nhiều nước quan tâm. Nó liên quan đến ổn định, phát triển của đất nước trong thời gian tới; liên quan đến độc lập, chủ quyền; liên quan đến việc giải quyết quan hệ giữa ta với Trung Quốc.
“Trung Quốc là một nước láng giềng lớn, muốn hay không vẫn phải sống cạnh nhau, không ai chọn được láng giềng. Vậy thì phải xử lý thế nào cho đúng. Việc này không phải bây giờ mới xảy ra, mà trong lịch sử chúng ta đã biết rồi, đã xảy ra nhiều lần rồi. Từ xa xưa cho đến nay, chúng ta luôn phải tìm cách làm sao để chung sống với nhau hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển nhưng đồng thời phải giữ vững độc lập, chủ quyền. Cái khó là ở đó” - Tổng bí thư nói.
Theo Tổng bí thư, trước việc Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan vào vùng thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, các nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước ta đã lên tiếng thể hiện rõ lập trường của Việt Nam tại các diễn đàn khác nhau. Chúng ta đã tuyên bố rất rõ rằng việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của chúng ta là vi phạm pháp luật quốc tế, vi phạm chủ quyền của Việt Nam, vi phạm thỏa thuận cấp cao giữa hai đảng, hai nhà nước...
“Chúng ta nói thẳng thắn, công khai giữa diễn đàn Quốc hội, cả thế giới đều biết. Chúng ta phản đối, kịch liệt lên án, yêu cầu Trung Quốc phải rút giàn khoan cùng tàu bè hộ tống ra khỏi vùng biển Việt Nam, đi vào đàm phán, đối thoại” - ông nói.
Trước đông đảo cử tri, Tổng bí thư nhấn mạnh: Chúng ta phải xác định đây là việc còn lâu dài, phức tạp, phải rất bình tĩnh, tỉnh táo, kiên quyết, kiên trì, bằng nhiều biện pháp, phát huy sức mạnh tổng hợp. Vì đây là vấn đề cơ bản đụng chạm đến chủ quyền quốc gia. Tổng bí thư cũng lưu ý cần phân biệt rõ nhân dân Trung Quốc và lãnh đạo Trung Quốc, các thế lực có mưu đồ bành trướng, lấn chiếm biển Đông.
“Chúng ta quan hệ hữu nghị với 1,3 tỉ nhân dân Trung Quốc với mong muốn chung sống hòa bình, hợp tác, hữu nghị” - Tổng bí thư nói.
Kiểm tra vụ ông Trần Văn Truyền
Ngoài vấn đề biển Đông, nhiều cử tri có ý kiến về công tác phòng chống tham nhũng, quản lý cán bộ, đặc biệt là những sự việc liên quan đến phần trả lời chất vấn của các bộ trưởng, trưởng ngành tại Quốc hội. Cử tri Bùi Đức Thập bày tỏ chưa hài lòng về phần trả lời của tổng Thanh tra Chính phủ liên quan đến khối tài sản lớn của ông Trần Văn Truyền và việc ông này ký bổ nhiệm 60 cán bộ trước khi về hưu.
“Tổng Thanh tra Chính phủ trả lời rằng ông Truyền thuộc diện Ban Bí thư quản lý, rồi bây giờ đã nghỉ hưu. Trả lời như vậy là đá quả bóng sang chỗ khác. Tôi đề nghị Ban Chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng mà Tổng bí thư là trưởng ban, chỉ đạo làm rõ vụ này và công bố thông tin để nhân dân biết” - ông Thập đề nghị.
Phúc đáp nội dung cụ thể này, Tổng bí thư cho biết sau khi có thông tin, dư luận về những vấn đề liên quan đến ông Trần Văn Truyền - nguyên tổng Thanh tra Chính phủ, Ban Bí thư đã giao Ủy ban Kiểm tra trung ương làm rõ. “Tinh thần của chúng ta là có khuyết điểm, có sai phạm thì phải bị xử lý. Về hưu rồi cũng vẫn bị xử lý. Nhưng cần có thời gian để kiểm tra, kết luận làm rõ, không để lọt người lọt tội, không làm oan người vô tội” - Tổng bí thư nói.
LÊ KIÊN

Ảo tưởng về sức mạnh Trung Quốc


The Illusion of Chinese Power
David Shambaugh
Ngày 25, tháng 6, 2014
 Người dịch Hahangiang- Thailand

Nghĩ đến Trung Quốc như một thế lực toàn cầu là phổ biến, có lý, và sai.
Theo lẽ thường mà nói thì gã cơ bắp Trung Quốc quả là bất trị và thế giới phải chuyển mình lại với thực tế, rằng kẻ khổng lồ Châu Á này có thể là một thế lực toàn cầu. Có cả một làn sóng tiên tri về “Trung Hoa trổi dậy” đã xuất hiện trong thập niên vừa qua, tất cả đều vẽ lên một bức tranh về thế kỉ 21 với Trung Quốc là diễn viên chính. Điều này rất phổ biến và có thể hiểu được - nhưng sai.

 Nên nhớ rằng cách đây không lâu, những năm 1980 đã có những dự đoán tương tự về Nhật Bản như là “số một” và gia nhập vào nhóm các tay thượng thừa của thế giới - trước khi lún vào 3 thập kỉ trì trệ -  và lộ ra rằng nó chỉ là thế-lực đơn-chiều (kinh tế) và tiềm lực quốc gia không đủ rộng để gượng lại. Trước đó nữa Liên Bang Xô Viết cũng được dự đoán là một siêu thế lực toàn cầu (vậy nên cuộc Chiến Tranh Lạnh mới diễn ra tận nửa thế kỉ), và rồi lại sụp đổ hầu như sau một đêm năm 1991. Sự lụi tàn của USSR cũng cho thấy tương tự rằng nó chỉ là một thế-lực-đơn-chiều (quân sự) và hao mòn dần trong những thập niên đó. Sau Chiến Tranh Lạnh, một vài học giả nhận định rằng Liên Minh Châu Âu (EU) lớn hơn và mạnh hơn sẽ nổi lên như một thế lức toàn cầu và làm trục cho hệ thống quốc tế - để rồi EU tỏ ra bất lực và thiếu khả năng trước những thách thức tầm cỡ toàn cầu. Châu Âu cũng thế, lộ ra là một thế-lực-đơn-chiều (kinh tế). Vậy nên, khi nói tới Trung Quốc, một chút hoài nghi và cảnh tỉnh là cần thiết.

Rõ ràng rằng Trung Quốc là một thế lực trỗi dậy quan trọng nhất -vượt xa năng lực của Ấn Độ, Brazil và Nam Phi - và trong một số lĩnh vực thì đã qua mặt tiềm năng của các “thế lực tầm trung” như Nga, Nhật Bản, Anh, Đức và Pháp. Theo nhiều phương diện thì Trung Quốc giờ đây hiển nhiên là thế lực số 2 của thể giới sau Mĩ, và trong một vài phạm vi thì nó đã soán ngôi Mĩ.

Trung Quốc sở hữu nhiều chức vị của một thế lực toàn cầu: dân số đông nhất thế giới, lãnh thổ đất liền rộng lớn, nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới, quĩ quốc phòng và chi phí quân sự lớn nhất, lực lượng quân thường trực lớn nhất, một chương trình hoạt động trong không gian, một tàu sân bay, bảo tàng lớn nhất thế giới, đập thủy điện lớn nhất thế giới, mạng lưới đường cao tốc lớn nhất thế giới và hệ thống tàu siêu tốc tốt nhất thế giới. Trung Quốc còn là quốc gia giao thương đầu lĩnh, nguồn tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới, là nơi thải ra khí nhà kính nhiều nhất thế giới, là nước nhận viện trợ lớn thứ 2 thế giới và là nơi khởi đầu lớn thứ 3 thế giới của đầu tư trực tiếp nước ngoài, và còn là nhà sản xuất lớn nhất thế giới về nhiều mặt hàng.

Tiềm lực, tuy nhiên, chỉ là một trong những thước đo về sức mạnh quốc gia và quốc tế - và lại không phải là cái quan trong nhất.

Các thế hệ của các nhà xã hội học đã xác định một kim chỉ quan trọng về quyền lực là sự ảnh hưởng - khả năng nhào nặn sự kiện và hành động của kẻ khác. Một nhà khoa học chính trị gần đây, Robert Dahl đã nhận xét: “A có quyền lực với B ở một mức mà anh ta có thể khiến B làm những điều mà B lẽ ra lại không làm”. Tiềm lực mà không được chuyển hóa thành hành động để đạt được những kết quả cụ thể thì không mấy giá trị. Sự tồn tại của chúng có thể mang lại một tác động ấn tượng hoặc thoái chí, nhưng khả năng ảnh hưởng hành động của kẻ khác hoặc một sự việc mới quan trọng. Dĩ nhiên là có nhiều cách mà các quốc gia dùng tiềm lực của mình để ảnh hưởng hành động của kẻ khác và các sự việc: sự thu hút, thuyết phục, kết nạp, cưỡng bức, ban thưởng, xui khiến, hoặc là đe dọa hoặc là vũ lực. Quyền lực và sự thực thi của nó vì thế mà liên quan nhau về bản chất: cách sử dụng những công cụ như trên để ảnh hưởng một tình huống nhằm mang lại lợi ích cho ai đó.

Khi chúng ta nhìn vào sự hiện diện và hành vi của Trung Quốc trên vũ đài thế giới ngày nay, chúng ta cần phải nhìn thấu cái tiềm lực bề mặt đầy ấn tượng và tự hỏi: Liệu Trung Quốc có đang thực sự ảnh hưởng hành động của các nước khác và quỹ đạo của quan hệ quốc tế trong nhiều lĩnh vực? Câu trả lời ngắn gọn là: không nhiều lắm, thậm chí là hoàn toàn không. Rất ít các lĩnh vực - nếu có - mà Trung Quốc được xem là đang ảnh hưởng các nước khác, đạt tiêu chuẩn toàn cầu hay là hình thành xu thế toàn cầu, cũng như cố gắng giải quyết các vấn đề thế giới. Trung Quốc là một thế lực thụ động, phản xạ e dè trước các thách thức và lẩn đi khi các khủng hoảng quốc tế xảy ra. Các khủng hoảng vẫn đang tiếp diễn ở Ukraine và Syria chỉ là một trong những ví dụ gần đây nhất về sự thụ động của Bắc Kinh.

Hơn nữa, khi tiềm lực của Trung Quốc được xem xét cẩn thận, nó không mạnh lắm. Có nhiều kim chỉ tỏ ra rất ấn tượng về số lượng, nhưng lại không về chất lượng. Chính sự thiếu sức mạnh về chất lượng đã biến Trung Quốc thành thiếu ảnh hưởng. Người Trung Quốc có câu tục ngữ “wai ying, nei ruan”: rắn bên ngoài, mềm bên trong. Đây là một đặc tính xu hướng của Trung Quốc ngày nay. Cào sơ phía dưới bề mặt của nhiều thống kê ấn tượng về Trung Quốc, bạn sẽ thấy các nhược điểm diện rộng, những trở ngại quan trọng và một nền tảng mềm nhũn để trở thành một thế lực toàn cầu. Trung Quốc có thể là con hổ giấy của thế kỉ 21.

ĐIỀU NÀY được chứng minh qua năm lĩnh vực lớn: chính sách ngoại giao quốc tế, tiềm năng quân sự, sự hiện hữu văn hóa, thế lực kinh tế và các yếu tố nội địa làm nền tảng cho vị thế toàn cầu của Trung Quốc. Hãy cùng xem xét từng thứ một.

1-  Về mặt hình thức mà nói, ngoại giao của Trung Quốc thực sự là toàn cầu. Trong 40 năm vừa qua Trung Quốc đã đi từ một quốc gia bị cô lập bởi cộng động quốc tế đến khi thành một thành viên. Ngày nay, Bắc Kinh có quan hệ ngoại giao với 175 nước, là thành viên của hơn 150 tổ chức quốc tế và là 1 bên của hơn 300 hiệp định đa phương. Được viếng thăm bởi các quan chức ngoại quốc nhiều hơn bất kì quốc gia nào, và lãnh đạo của Trung Quốc thường xuyên đi khắp thế giới.
Dù đã hòa nhập vào cộng động quốc tế và chính sách ngoại giao đang hiện hữu (active diplomacy) của Bắc Kinh, phạm vi ngoại giao lại là một địa phận mà vị trí mang tính cục bộ của Trung Quốc lộ rõ. Một mặt, Trung Quốc tận hưởng biểu tượng của một thế lực to lớn của thế giới. Là thành viên vĩnh viễn của Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc (UN security Council), thành viên của G-20 và các hội đồng chính yếu khác, đồng thời tham gia vào tất cả các cuộc hội nghị thượng đỉnh quan trọng. Mặt khác, các nhà chức trách Trung Quốc vẫn thoái thác và thụ động khi họp bàn về các thách thức toàn cầu. Trung Quốc không dẫn đầu. Không tạo hình thái cho ngoại giao quốc tế, thúc đẩy chính sách các nước khác, tạo nên sự đồng lòng quốc tế, hình thành các liên minh hoặc là giải quyết vấn đề. Bắc Kinh không chủ động dính dáng vào giải quyết bất kì vấn đề toàn cầu nào, mà lại thụ động và thường là thành phần miễn cưỡng trong các nỗ lực đa phương được tổ chức bởi các nước khác (thường là Mĩ).
Để là một thế lực toàn cầu thì phải đứng vào giữa các mâu thuẫn và mang các bên lại với nhau, hình thành liên minh và sự đồng thuận chung, và – vâng - dùng vũ lực khi cần thiết. Bắc Kinh lại thích ngồi bên lề và đơn giản là kêu gọi các quốc gia giải quyết vẫn đề của họ bằng “các biện pháp hòa bình” và tìm các giải pháp “lợi đôi đường”. Các câu thần chú trống rỗng như thế chả giải quyết được gì. Bắc Kinh còn bị dị ứng nặng với các biện pháp cưỡng bức và chỉ đứng về phía Hội Đồng Bảo An khi mà nếu không, thì sẽ bị cô lập và ảnh hưởng tiêu cực tới hình ảnh quốc tế của mình. Đây không phải hành vi của một lãnh đạo toàn cầu.
Thay vào đó, ngoại giao cấp cao của Bắc Kinh thật sự chỉ là một vở kịch, mang tính tượng trưng hơn là thực chất. Mục đính chính là củng cố sự chính danh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (CCP) với những người theo dõi trong nước bằng việc các lãnh đạo Trung Quốc thân mật cùng thành phần ưu tú của thế giới, trong khi làm vẻ với cộng đồng quốc tế rằng đất nước này đã trở lại vị thế hùng mạnh sau một vài thế kỉ bất lực. Theo đó, chính quyền Trung Quốc bỏ rất nhiều công sức để dàn dựng một cách tỉ mỉ các tiếp xúc giữa lãnh đạo của họ với các người đồng chức ngoại quốc. Tuy nhiên, cốt lõi chính sách ngoại giao của Trung Quốc vẫn chủ yếu là thủ thế (tránh rủi ro, risk-averse) và được dẫn dắt bởi các quyền lợi quốc gia hạn hẹp. Bắc Kinh thường chọn mẫu-chung-nhỏ-nhất (lowest-common-denomiator) để tiếp cận, theo cách an toàn nhất và quan điểm ít tranh cãi nhất, và chờ xem quan điểm của các nước khác ra sao rồi mới hé lộ ý mình.
Sự ngoại lệ đáng chú ý của tính thụ động nói chung này cho thấy định nghĩa thông dụng và hạn hẹp về quyền lợi của Trung Quốc: Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương, nhân quyền và các lãnh thổ tranh chấp. Về những vấn đề này thì Bắc Kinh rất mực thận trọng và đối ngoại rất mạnh mẽ, nhưng những cố gắng để biện hộ cho quyền lợi của họ thì thường lại vụng về và cuối cùng lại phản tác dụng đến hình ảnh và mục đích của mình. Ngoài việc bảo vệ những quyền lợi hạn hẹp của mình thì đối ngoại của Trung Quốc vẫn rất thụ động so với một nước lớn và quan trọng như vậy.
Khi cùng nhau điều hành thế giới, là phải đóng góp cho lợi ích chung một tỉ lệ với tổng tiềm lực của một nước, thì hành vi của Bắc Kinh thường song song với sự thụ động và suy nghĩ hạn hẹp từ chính sách đối ngoại của họ. Trung Quốc quả có đóng góp nhiều mặt trong việc điều hành thế giới: Lưc Lượng Gìn Giữ Hòa Bình (UN peace keeper), triển khai hoạt động chống cướp biển tại vịnh Aden, các hoạt động chống khủng bổ ở khu vực Trung Á, chống phổ biến nguyên liệu hạt nhân, sức khỏe cộng đồng, hỗ trợ thảm họa và chống tội phạm quốc tế. Trong những lãnh vực này thì Trung Quốc cũng có công. Tuy nhiên, Trung Quốc có thể và nên làm nhiều hơn thế; vẫn đang là “đánh với hạng dưới cân” (boxing, punches well below its weight) bằng cách không đóng góp theo tỉ lệ với kích cỡ, sự giàu có và thực lực ảnh hưởng của mình. Thế giới nên trông chờ và đòi hỏi nhiều hơn từ Trung Quốc.

Tại sao chính sách tham gia điều hành thế giới của Trung Quốc lại hạn chế như vậy? Có 3 lí do chính. Đầu tiên, bên trong Trung Quốc tồn tại một sự nghi ngờ sâu sắc về cái giả thuyết tươi đẹp và khái niệm căn bản của việc điều hành thế giới, xem nó như là một cái bẫy hiện đại của Tây phương (đặc biệt là Mĩ) để làm “chảy máu” Trung Quốc bằng cách lôi họ vào các cuộc khủng hoảng và các địa điểm mà họ không có quyền lợi quốc gia trực tiếp - và theo đó mà phân tán tài nguyên rồi kìm hãm sự trỗi dậy của họ. Thứ hai, dân Trung Quốc sẽ phê bình chính quyền vì phân bổ tài nguyên ra nước ngoài khi mà nạn đói nghèo và các vấn đề nhức nhối khác vẫn đang hiện hữu tại bản quốc. Và thứ ba là Trung Quốc có kiểu tiếp cận “hợp đồng” khi sử dụng nguồn lực của mình, đặc biệt là khi dính tới tiền. Tánh này vốn từ trong văn hóa buôn bán của người Trung Quốc mà ra, nhưng rồi lan cả những mảng khác trong ứng xử của Trung Quốc. Người Trung Quốc muốn biết chính xác là họ sẽ được lại cái gì và khi nào cho một khoản đầu tư. Do vậy, cả cái chủ nghĩa đạo đức và đóng góp không cầu thân cho lợi ích chung là một điều xa lạ với nhiều người Trung Quốc.
Kết quả là, trong lĩnh vực đối ngoại - song phương, đa phương và điều hành thế giới - Bắc Kinh vẫn cho thấy một sự thụ động rõ rệt và miễn cưỡng tham gia. Còn lâu mới trở thành “cổ đông trách nhiệm” mà ông Robert Zoellick phát biểu năm 2005. Chính sách của Bắc Kinh vẫn chỉ hạn hẹp về quyền lợi bản thân, và sự tham gia của Bắc Kinh với các vấn đề thế giới vẫn là tối thiểu và chiến thuật, không phải là quy chuẩn và chiến lược. Mục đích của chính sách đối ngoại của Bắc Kinh, thực tế mà nói, là kiếm tiền. Xem kĩ các thành phần trong phái đoàn chính phủ hay chủ tịch Trung Quốc sẽ thấy một số lượng lớn các CEO của các tập đoàn - đi tìm nguồn năng lượng, tài nguyên thiên nhiên, các cơ hội buôn bán và đầu tư. Chính sách đối ngoại kiểu con buôn như vậy không giúp Bắc Kinh có được sự tôn trọng từ quốc tế, mà thực tế là đang có gia tăng các chỉ trích và dội ngược trên khắp thế giới (đang chú ý nhất là Châu Phi và Mĩ La Tin).

2-  Tiềm lực quân sự của Trung Quốc là một mặt khác màTrung Quốc là một thế lực cục bộ: ngày càng mạnh trong khu vực, nhưng không hề toàn cầu. Trung Quốc không có khả năng phóng sức ra khỏi khu láng giềng châu Á (ngoài các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, chương trình không gian và tiềm lực chiến tranh mạng), và ngay cả trong Châu Á thì khả năng triển khai sức mạnh cũng bị hạn chế. Chưa hẳn là Trung Quốc có thể triển khai năng lực quân sự ngoài phạm vi 500 hải lý từ lãnh thổ của họ (như trong các tranh chấp biển Hoa Đông và Hoa Nam) và duy trì đủ lâu để thắng thế trong các mâu thuẫn. Lực lượng quân sự của họ không được thực nghiệm chiến trường, chưa đánh một trận nào từ năm 1979.
Để nói cho chắc, quân sự Trung Quốc đã được cải thiện một cách đều đặn trong 20 năm. Giờ đây họ có quỹ quân sự lớn thứ 2 thế giới (131.6 tỉ đô trong năm 2014), lượng lính thường trực lớn nhất, nhiều vũ khí hiện đại, một hải quân đang giong buồm ngày càng xa hơn đến phía tây Thái Bình Dương và thi thoảng cả Ấn Độ Dương, và một chiếc tàu sân bay khiêm tốn. Vậy nên quân sự Trung Quốc không phải ngon xơi. Nó có khả năng phòng vệ quê hương mình, và giờ thì có thể quậy nên một cuộc va chạm thắng lợi với Đài Loan (đó là khi không có một cuộc can thiệp nhanh chóng và toàn diện của Mĩ). Trung Quốc cũng đang được xem là một thế lực quân sự khu vực châu Á và do đó đang thay đổi cán cân sức mạnh trong khu vực, nhưng quân đội Trung Quốc vẫn không có khả năng phát triển sức mạnh toàn cầu. Trung Quốc không có căn cứ nước ngoài, không có hậu cần đường dài và tuyến thông tin, và vệ tinh phủ sóng toàn cầu cơ bản. Hải quân vẫn chủ yếu chỉ là một lực lượng duyên hải ven biển, không quân không có khả năng đánh xa và chưa chứng minh được năng lực tàng hình, và lực lượng bộ binh không được thiết kế triển khai nhanh.
Hơn nữa, về chiến lược, thì Trung Quốc có thể được gọi là “thế lực cô đơn” - thiếu bạn thân và không có đồng minh. Ngay cả mối quan hệ thân thiết nhất của Trung Quốc (với Nga), các yếu tố ngờ vực và nghi ngại mang tính lịch sự thấm xuyên qua vẻ ngoài dường như rất hòa hợp giữa quan hệ hai nước. Không một quốc gia nào tìm kiếm bảo an và bảo vệ từ Bắc Kinh (có lẽ ngoại trừ Pakistan) - điều này cho thấy một sự thiếu hụt trầm trọng sự ảnh hưởng chiến lược của một thế lực lớn. Trái lại, các nước châu Á khác đang đắp nặn tuyến phòng thủ với Mĩ và cải thiện sự phối hợp với nhau - chính xác là do sự mập mờ và đe dọa mà họ thấy ở Trung Quốc.

3-  Xoay từ sức mạnh cứng sang sức mạnh mềm, Trung Quốc tích lũy như thế nào để thành một thế lực toàn cầu? Không ổn. Không có một xã hội nào khác học hỏi văn hóa Trung Quốc, không có nước nào khác đang tìm cách bắt chước hệ thống chính trị của Trung Quốc, và mô hình kinh tế của họ cũng không thể tái bản đâu khác được. Mặc dù đã đổ ra rất nhiều công sức và một lượng lớn tài nguyên để xây dựng sức mạnh mềm và cải thiện hình ảnh quốc tế của minh từ năm 2008, điều tiếng quốc tế về Trung Quốc vẫn là từ lẫn lộn cho tới tiêu cực. Khảo sát ý kiến cộng đồng cho thấy khắp nơi trên thế giới khái niệm về Trung Quốc vẫn hỗn tạp, vừa tăng vừa giảm với đầy các rắc rối.
Trung Quốc không phải là cái nam châm thu hút kẻ khác để cạnh tranh - văn hóa, xã hội kinh tế và chính trị. Vấn đề của Trung Quốc trong 4 mảng trên là riêng biệt. Trung Quốc thiếu sự hấp dẫn chung khi vượt ra khỏi biên giới hoặc các cộng đồng thiểu số của mình. Phần lớn bởi vì tính độc nhất của kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị của Trung Quốc, nên sức mạnh mềm toàn cầu của Trung Quốc chỉ từ yếu đến không tồn tại.
Các sản phẩm văn hóa của Trung Quốc - nghệ thuật, phim ảnh, văn chương, âm nhạc, giáo dục - vẫn ít được biết tới bên ngoài Trung Quốc và không dựng nên một xu hướng toàn cầu nào. Đáng ngưỡng mộ là vậy, sự phát triển kinh tế của Trung Quốc là một sản phẩm của các thành phần không thể tái bản ở các nước khác (kinh tế quy mô cạnh tranh, hoạch định quốc gia kiểu Xô Viết, doanh nghiệp cá nhân, một lực lượng lao động lớn và kỉ luật, ra đời nghiên cứu – và - phát triển và nguồn vốn ngoại khổng lồ). Ngay cả khi “mô hình Trung Quốc” tồn tại (còn đang tranh cãi), thì nó cũng không thể xuất khẩu được, vì tổ hợp các yếu tố này không tìm thấy nơi nào khác. Hệ thống chính trị của Trung Quốc tương tự như một hỗn hợp các ý tưởng biến thể và chọn lọc từ chủ nghĩa Cộng Sản Mác, chủ nghĩa độc trị kiểu Châu Á, Khổng giáo và an ninh nội địa chặt chẽ. Sự đặc biệt này không thể nhân bản được - không có nước nào định làm vậy, và cũng không ai thấy có người ngoại quốc nào muốn tị nạn chính trị hay làm công dân của PRC. (CHDCNDTQ)
4- Còn về sức mạnh kinh tế của Trung Quốc thì sao? Đây là lĩnh vực mà người ta có thể xem Trung Quốc là một thế lực toàn cầu và là người điều chỉnh xu hướng - nhưng tác động của Trung Quốc lại rất hạn chế so với dự đoán. Cũng như các lĩnh vực khác, rất ấn tượng về số lượng nhưng yếu về chất lượng. Trung Quốc là quốc gia giao dịch lớn nhất thế giới, nhưng xuất khẩu chủ yếu là hàng tiêu dùng cấp thấp; sản phẩm của họ ít được nhận biết thương hiệu từ quốc tế; chỉ có trên đầu ngón tay những tập đoàn đa quốc gia đang làm ăn thành công tại nước ngoài; tổng dự trữ vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (ODI) của Trung Quốc chỉ đứng hạng 17 toàn thế giới; quỹ viện trợ quốc tế của Trung Quốc chỉ bằng một góc của Mĩ, Châu Âu, Nhật hay là Ngân Hàng Thế Giới.
Khi đánh giá về chất lượng thay vì số lượng thì hồ sơ kinh tế của Trung Quốc không mấy ấn tượng. Vẫn là một nên kinh tế gia công lắp ráp - không phải là sáng tạo và thúc đẩy. Hâu hết các sản phẩm xuất khẩu được gia công hoặc sản xuất ở Trung Quốc đều được kiến tạo ở nơi khác. Hành vi ăn cắp bản quyền một cách hung hăng của Trung Quốc và chính sách “thúc đẩy cách tân nội địa” (cái mà ngốn hàng tỉ đô mỗi năm cho việc nghiên cứu và phát triển quốc nội mỗi năm) của chính quyền là sự thú nhận thất bại trong việc sáng tạo. Điều này có thế, và có lẽ là sẽ, thay đổi theo thời gian - nhưng tới nay thì TQ không đang đặt tiêu chuẩn quốc tế cho bất cứ công nghệ hay dòng sản phẩm nào (hoặc là trong khoa học thiên nhiên, y khoa, khoa học xã hội hay nhân chủng học). Tương tự, Trung Quốc chỉ có hai trường đại học nằm trong top 100 trường thế giới, dựa theo Times Higher Education World University Rankings 2013-2014.
Nếu Trung Quốc muốn thúc đẩy cải tiến, họ sẽ, đương nhiên, là phải đầu tư nhiều thêm vào quỹ nghiên cứu và phát triển. Dựa theo National Science Foundation năm 2009 Trung Quốc chỉ tiêu 1.7% GDP của mình vào nghiên cứu và phát triển, so với 2.9% của Mĩ, 2.8% của Đức và hơn 3.3% của Nhật. “Cường độ nghiên cứu” của hoạt động nghiên cứu và phát triển của Trung Quốc thậm chí còn không vào top 20 của thế giới, khi mà 80% dành để phát triển sản phẩm và chỉ 5% cho nghiên cứu cơ bản. Sự thiếu hụt Giải Nobel cũng là một thước đo. Giữa năm 1949 cho đến 2010, có 584 giải Nobel được trao. Người Trung Quốc được 10 giải (8 giải khoa học), nhưng hết 8 trong số đó là hoạt động tại nước ngoài. Có 2 ngoại lệ là Liu Xiaobo thắng Nobel hòa bình năm 2010 và Mo Yan thắng giải văn chương năm 2011. Trích dẫn trong các bài viết chuyên nghiệp cũng là một thước đo khác. Những bài được trích dẫn nhiều nhất thế giới (bao gồm tất cả các lĩnh vực), học giả Trung Quốc chỉ đạt 4% trong khi Mĩ tới 49%.
Kết quả của chứng “thâm hụt canh tân” kinh niên của Trung Quốc là nước này giờ đây sa lầy vào “bẫy thu nhập trung bình” muôn thuở. Cách duy nhất để thoát ra là canh tân - như Nhật Bản, Nam Hàn, Singapore và Đài Loan đã chứng minh trước đó. Và điều này cần nhiều hơn là đầu tư của chính quyền vào nghiên cứu và phát triển - nó cần một hệ thống giáo dục đặt tư duy phản biện (critical thinking) và tự do khám phá (freedom of exploration) làm tiền đề. Điều này lại cần một hệ thống chính trị tương đối cởi mở và dân chủ và không có cắt dán hay “vùng cấm” trong lĩnh vực nghiên cứu. Học sinh và các trí thức phải được tán thưởng- không phải bị truy lùng và trừng phạ t-vì thách thức những khái niệm phổ thông và mắc lỗi. Cho đến khi điều này xảy ra, Trung Quốc sẽ luôn bị kẹt trong bẫy thu nhập trung bình - sản xuất và lắp ráp nhưng không phải sáng tạo và sáng chế.
Với bối cảnh này, gã khổng lồ giao dịch Trung Quốc yếu hơn nhiều so với vẻ ngoài của mình. Những yếu điểm tương tự cũng được thấy trong vốn ODI (oversease direct investment; vốn đầu tư ra nước ngoài) của Trung Quốc. Mặc dù chính quyền Trung Quốc đã chú trọng hàng đầu việc đưa các doanh nghiệp Trung Quốc ra thế giới, nhưng cho tới nay thì vốn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc vẫn còn khá nhỏ. Như đã nhắc đến phía trên, tổng dự trữ ODI khó mà đưa Trung Quốc vào top 20 thế giới, mặc cho nguồn tiền xuất ngoại (annual outflows) hàng năm đang tăng nhanh và đứng thứ 3 thế giới (88.2 tỉ Đô trong năm 2012). Vẫn chỉ bằng một phần tư vôn ODI của Mĩ cùng kì.
Quan trọng hơn nữa, như những mảng khác về hồ sơ toàn cầu của Trung Quốc, cần phải đào xuyên qua những thống kê về số lượng và hỏi những câu mang tính chất lượng: nguồn tiền ấy đi đâu, và có phải là đầu tư thật hay không? Các điểm đến trên thế giới và cấu thành của vôn ODI của Trung Quốc đã chuyển hướng nhanh chóng từ năm 2011, nhưng một tỉ lệ lớn danh mục vốn chảy vào những nơi như British Virgin Islands và Grand Cayman Islands (xếp hạng thứ 2 và 3 những nơi nhận vốn nhiều nhất năm 2011). Thế mà một số lại không phải thực chất là đầu tư nước ngoài - mà lại là tiền được tuồn ra những bến an toàn. Điều này không chỉ đúng với chính quyền và các công ty Trung Quốc mà còn cả tài sản cá nhân. Sổ Xanh (Blue Book) thường niên năm 2014 về Di Cư Quốc Tế của Trung Quốc, biên soạn bởi Trung Tâm về Trung Quốc& Toàn Cầu Hóa, gần đây báo cáo rằng từ năm 1990 tổng cộng 9.3 triệu người Trung Quốc di cư ra nước ngoài, mang theo 2.8 nghìn tỉ Nhân Dân Tệ (46 tỉ Đô La Mĩ). Đây không phải là một sự phát triển mới, nhưng lại là một xu hướng đang gia tăng trong thập niên vừa qua. Khi một số lớn tầng lớp tinh túy của kinh tế một nước bỏ đi như vậy và rất nóng lòng bảo vệ khoản tiết kiệm tài chính của mình ở nước ngoài, nó chứng tỏ rằng họ thiếu tự tin vào hệ thống chính trị và kinh tế nước nhà.
Dù thế, gần đây hồ sơ vốn ODI và vệt chân địa lý của Trung Quốc đã thay đổi. Trung Quốc đang tung hoành với các đầu tư và mua bán khắp Châu Á, Mĩ La Tin, Châu Âu và Mĩ. Các tay buôn Trung Quốc đang chộp giật đủ loại tài sản - tài sản công dân và tài sản thương mại, nhà máy, khu công nghiệp, các cơ sở hạ tầng nghiên cứu và phát triển, trang trại, rừng, khoáng sản, dầu và khí đốt, cùng nhiều tài nguyên khác. Do đó mà hồ sơ đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc đang thay đổi nhanh chóng, nhưng tác động của nó vẫn mơ hồ.
Còn về các tập đoàn đa quốc gia Trung Quốc thì sao? Sức cạnh tranh tại ngoại của họ ra sao? Cũng như trong khác mục khác, có nhiều điểm yếu hơn là điểm mạnh. Trên bề mặt, xét theo đánh giá xếp hạng của Fortune Global 500 (500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới), các công ty Trung Quốc chỉ đứng sau các tập đoàn đa quốc gia Mĩ. Nhưng những xếp hạng này được tính dựa trên tổng doanh thu và lợi nhuận cơ bản - không phải điểm mà công ty kiếm ra tiền. Khi khảo sát các công ty Trung Quốc trong danh sách năm 2013, dễ nhận thấy rằng rất ít công ty hoạt động tại nước ngoài và chỉ đếm trên đầu ngón tay các công ty thu hơn nửa doanh thu từ nước ngoài. Cho nên đây không thật là những tập đoàn đa quốc gia, mà là những tập đoàn diễn viên nội địa.
Nhiều doanh nghiệp rất tha thiết để vươn ra toàn cầu, nhưng những người cố để đi xa cỡ đó lại có hành trình không ổn lắm. Có nhiều câu chuyện thất bại hơn là thành công về các tập đoàn tham vọng của Trung Quốc. Các thương nghiệp Trung Quốc thường sẩy chân khi lãnh đạo tập đoàn của họ đã không làm trước khảo sát tiền khả thi (due diligence) hoặc bị va chạm văn hóa tập đoàn. Chung quy lại, nhược điểm chính của các tập đoàn đa quốc gia Trung Quốc là nhân lực - cụ thể là vấn đề quản trị. Chỉ có một vài người quản lý (managers) quý giá là đa ngôn ngữ và đa văn hóa, và các công ty Trung Quốc thường không thuê người nước ngoài với kĩ năng như vậy vào các vị trí quản lí cấp cao (ngoại trừ Huawei và Haier không theo luật này). Các công ty Trung Quốc và sự quản trị của họ nhiều lần bộc lộ sự bất lực để thoát khỏi văn hóa tập đoàn và cách làm ăn của chính mình. Bởi vì họ thích hệ thống cấp bậc và các vai trò rõ ràng tại nơi làm việc, người Trung Quốc thường không quen cấu trúc quản lý “phẳng” với chủ trương phân quyền và sáng tạo cá nhân. Các xu hướng này cứ tạo nên các cuộc va chạm văn hóa liên hồi giữa các thương nghiệp Trung Quốc và các công ty phương Tây. Các công ty Trung Quốc cũng cho thấy những khó khăn trong việc thích nghi với các luật lệ, quản lý, thuế và môi trường chính trị nước ngoài. Sự minh bạch và quản lý tập đoàn hầu như không phải là đặc tính của các công ty Trung Quốc - nơi mà quá trình ra quyết định thường là mập mờ, cách làm ăn hay dính tới tham nhũng và các thủ tục kiểm toán thì hay có gian lận. Nhiều công ty Trung Quốc đã bị phát hiện gian lận thông tin bằng các công cụ điều chỉnh chứng khoán tại Mĩ trước khi IPOs. (Initial public offerings; chào bán cổ phiếu lần đầu)
Các tập đoàn Trung Quốc còn thiếu sức cạnh tranh khi bàn về thương hiệu thế giới. Chỉ có đếm trên đầu ngón tay các công ty Trung Quốc có khả năng đưa thương hiệu của mình thành quốc tế: bia Tsingtao, điện gia dụng Haier, viễn thông Huawei, Air China, xe hơi Geely và một ít số khác. Nhưng không có lấy một công ty Trung Quốc nào vào được top 100 toàn cầu của Business Week/Interbran.
Các thước đo khác về năng lực nội địa của Trung Quốc cũng không xếp hạng cao mấy và tích cực trên thế giới. Năm 2014, Freedom House xếp hạng Trung Quốc thứ 183 trên tổng 197 nước về tự do báo chí. Từ năm 2002, tổng hợp của Ngân Hàng Thế Giới về Chỉ Số Quản Trị Thế Giới (World Bank’s composite Worldwide Governance Indicators) đã nhất quán xếp Trung Quốc vào hạng 30 trong việc ổn định chính trị và quản lí tham nhũng, hạng 50 trong hiệu quả chính quyền, hạng 40 trong chất lượng quản lí và luật lệ, và dưới 10 về khả năng giải trình (minh bạch). (*ở đây tác giả dùng percentile, nghĩa là so sánh trong vòng 100 nước, đứng thứ 50 là trung bình, hơn 50 nghĩa là chỉ số cao hơn 50 nước và ít hơn 50 là ám chỉ tệ hại). Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới xếp hạng Trung Quốc chỉ thứ 29 trên toàn thế giới vào mục chỉ số Khả Năng Cạnh Tranh Toàn Cầu năm 2013, cùng với hạng 68 mục tham nhũng và 54 mục đạo đức kinh doanh. Tổ chức Minh Bạch Quốc Tế thậm chí xếp hạng Trung Quốc còn thấp hơn (thứ 88) trong chỉ số tham nhũng quốc tế năm 2013. Trong những đánh giá và phân mục này thì Trung Quốc hầu như đang tuột dốc trong thập niên qua. Bằng những thước đo trên và khác nữa, rõ ràng rằng sự hiện diện cùng hình ảnh của Trung Quốc trên thế giới không thể lẫn lộn hơn. Trong nhiều hạng mục thì Trung Quốc rơi vào nhóm các nước trình diễn tệ hại nhất và ít được tôn trọng nhất trên thế giới.
Báo cáo của Phát Triển Con Người Liên Hợp Quốc (United Nations Human Development) cho thấy rằng mặc cho sự tiến bộ đáng kể và đáng nể của nền kinh tế xã hội (socioeconomic) mà Trung Quốc đạt được từ những năm 1980, nước này vẫn phần nhiều là một nước đang phát triển. Nước CHDCNDTQ đứng thứ 101 trên chỉ số tổng thể, trong 187 nước được khảo sát.  Thu nhập bình quân đầu người giờ đây gần 8,000 Đô trên phương diện sức mua tương đương (purchasing-power-parity), nhưng 13.1 phần trăm dân số vẫn sống dưới 1.25 đô một ngày. Trong các mảng tuổi thọ trung bình, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh, cung cấp chăm sóc sức khỏe, chất lượng giáo dục và bất bình đẳng, Trung Quốc vẫn chậm hơn nhiều các nước công nghiệp. Ô nhiễm và nhiễm độc môi trường của Trung Quốc giờ đây là tệ nhất thế giới và đang góp phần vào tỉ lệ ung thư đang gia tăng. Dù cho gần đây chính quyền có cô gắng để mở rộng phân phối, bảo hiểm chăm sóc sức khỏe phổ thông và thảm họa (catastrophic health care and insurance), hầu hết người Trung Quốc vẫn phải đối mặt nhiều bất ổn khi mắc bệnh. Hệ số Gini (đo chỉ sô bình đẳng thu nhập, 0 tượng trưng cho sự bình đẳng tuyệt đối và 1 tượng trưng cho sự bất bình đẳng tuyệt đối) của Trung Quốc là 0.5, vào nhóm cao nhất thế giới. Trường tiểu học và trung học của Trung Quốc cho ra những kết quả kiểm tra cấp thế giới (world-class test results), nhưng hệ thống đại học còn thua xa các nước lãnh đạo thế giới.

Những kiểm chứng này không nhằm để xem nhẹ những thành tựu phát triển thần kì của Trung Quốc trong 3 thập kỉ qua, nhưng nó chỉ là một hồi chuông cảnh tỉnh lại rằng Trung Quốc còn chưa đâu gần top thế giới trong nhiều hạng mục phát triển.

Đây là một bức tốc họa (?) về Trung Quốc ngày nay. Mười hay hai mươi năm nữa kể từ giờ vị trí trên toàn cầu của Trung Quốc có thể sẽ tiến bộ hơn nhiều trong các lĩnh vực này và có thể nó sẽ vận hành trên cơ sở toàn cầu như Mĩ, nhưng bây giờ Trung Quốc nhiều nhất chỉ là một thế lực cục bộ. Nhưng không nên đơn thuần kết luận là quỹ đạo tăng trưởng của Trung Quốc sẽ vẫn không thuyên giảm. Có thể, nhưng cũng còn hai khả năng khác- là trì trệ và thụt lùi.
Rất nhiều nhà quan sát Trung Quốc (China watchers) đi đến kết luận rằng nước này đang đến điểm giới hạn ở nhiều mặt. Tổng tăng trưởng đang chững lại (do chi phí sản xuất đang gia tăng và lợi thế so sánh đang giảm) và chính quyền chật vật duy trì 7% tốc độ tăng trưởng hàng năm cần thiết để duy trì việc làm, thu hút thêm nhân công vào lực lượng lao động và duy trì ổn định xã hội. Cố gắng là thế, chính quyền Trung Quốc đã không thể đạt được sự chuyển mình từ kinh tế định hướng - xuất khẩu và đầu tư sang kinh tế dựa vào tăng trưởng tiêu thụ nội địa và “kinh tế tri thức” sáng tạo như đã tuyên bố. Sản xuất đang không gia tăng một cách đáng kể chuỗi giá trị và nấc thang công nghệ, và yếu điểm bẫy thu nhập trung bình đang dần lộ ra (và có thể sẽ thành trạng thái vô định). Nợ địa phương đang nhức nhối và nhiều cơ quan địa phương đang loạng choạng bên bờ vực vỡ nợ. Bất bình đẳng xã hội đang ngày càng gay gắt, tham nhũng tràn lan từ chính quyền tới xã hội, đầy rẫy bức xúc trong mọi mặt lĩnh vực xã hội, người giàu thì đang tháo chạy khỏi nước với số lượng gia tăng, tầng lớp trung lưu thì trì trệ, và hệ thống chính trị vẫn cứng nhắc và đàn áp. Trong khi đó, nước này cũng không thực hiện các cải cách chính trị và tư pháp phù hợp để theo đuổi giai đoạn tiếp theo của tăng trưởng vì điều này sẽ trực tiếp đụng chạm đến quyền lực độc tài của Đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Vài nhà Hán Học tranh luận rằng chính Đảng Cộng Sản Trung Quốc là trở ngại chính của sự phát triển và tăng trưởng trong tương lai của Trung Quốc. Đảng này là một thể chế ngày càng bấp bênh, xơ cứng và mỏng manh và đã tê liệt từ năm 2008. Một phần lí do cho sự tê liệt này từ sự chuyển giao lãnh đạo năm 2012 và cuộc đấu tranh phe phái để dẫn đến điều này (bao gồm cả vụ Bạc Hy Lai), nhưng cũng có dính dáng tới những bất ổn gia tăng trong nước (cụ thể là Tây Tạng và Tân Cương). Những yếu tố khác cũng góp phần vào các hành động triệt tiêu và đàn áp của Đảng trong 5 năm qua, bao gồm cả nỗi lo từ vụ Mùa Xuân Ả Rập, nhưng chúng ta vẫn chưa thấy những bước tiến trong cải cách chính trị từ khi thay đổi lãnh đạo và Tập Cận Bình lên nắm quyền. Trái lại, đàn áp chính trị còn khốc liệt hơn từ khi Tập đảm nhiệm. Ngay cả Hội Nghị Lần Ba tháng 11 năm 2013 được tung hô như là một bước đột phá trong cải cách, cho tới nay vẫn có vẻ phóng đại hơn là tiến triển.
Đây là một ly Cốc Tai đầy nguy hiểm mà các nhà quan sát Trung Quốc thấy hấp dẫn ở nước này. Một chuỗi các vấn đề phơi bày và oái ăm mà nhân dân và chính quyền nước này phải giải quyết. Vì thế, các nhà quan sát không nên mù quáng mà nhận định rằng trong tương lai Trung Quốc sẽ phô bày thuyết duy lực của 30 năm vừa qua, hay con đường đi đến địa vị thế lực toàn cầu của nó sẽ nhất thiết phải tiếp tục.
 --------

David Shambaugh là giáo sư khoa học chính trị và quan hệ quốc tế và là trưởng ban Chương Trình Chính Sách Trung Quốc tại Trường Quan Hệ Quốc Tế Elliott tại đại học George Washington. Ông cũng là một thành viên cao cấp không thường trực trong các nghiên cứu Chương trình Chính sách đối ngoại và Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Đông Á tại Viện Brookings. Cuốn sách gần đây nhất của ông là Trung Quốc đi toàn cầu: Sức mạnh cục bộ. (Oxford University Press, 2013).http://huynhngocchenh.blogspot.com/

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Chuẩn bị hồ sơ, cân nhắc đấu tranh pháp lý với Trung Quốc

Theo thanhnienonline (http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140701/thu-tuong-nguyen-tan-dung-chuan-bi-ho-so-can-nhac-dau-tranh-phap-ly-voi-trung-quoc.aspx)

(TNO) Đó là ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 vào chiều nay (1.7).

Thủ tướng chủ trì phiên họp
Thủ tướng chủ trì phiên họp - Ảnh: Nhật Bắc
Phát biểu kết luận về tình hình trên Biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ hành động Trung Quốc đặt giàn khoan trái phép trong vùng biển Việt Nam đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế. Về chiến lược, Việt Nam không bất ngờ về sự việc này, tuy nhiên hậu quả của nó là hết sức nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu tới quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, tác động tiêu cực đến quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực giữa hai bên.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương nỗ lực cao nhất, tiếp tục thực hiện nghiêm túc chủ trương, định hướng của T.Ư Đảng, Chính phủ, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, kiên định, kiên trì các giải pháp, biện pháp, đối sách đấu tranh bằng biện pháp hoà bình trên thực địa, bằng chính trị - ngoại giao, bằng thông tin, truyền thông trong nước và nước ngoài; kiên quyết yêu cầu Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế, rút giàn khoan và tàu hộ tống ra khỏi vùng biển của Việt Nam.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng yêu cầu các Bộ, ngành chức năng theo dõi sát, nắm chắc tình hình, chủ động xử lý và báo cáo kịp thời những tình huống mới, phức tạp. Giao các cơ quan chức năng tiếp tục củng cố, chuẩn bị hồ sơ để T.Ư Đảng xem xét, cân nhắc thực hiện việc đấu tranh pháp lý theo luật pháp quốc tế.
Bên cạnh đó, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục giúp đỡ, hỗ trợ người lao động, doanh nghiệp bị thiệt hại; làm tốt công tác bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội.
"Dứt khoát không để tái diễn sự việc như vừa qua tại một số địa phương", Thủ tướng nêu rõ. Ngoài ra, tăng cường thông tin, tuyên truyền về môi trường đầu tư kinh doanh, củng cố niềm tin của nhà đầu tư.
Báo cáo nội dung trong phiên họp, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Nên cho biết điểm mới lần này là Chính phủ bàn sâu, kiểm điểm đánh giá tình hình 6 tháng. Trong đó, có tình hình biển Đông và các giải pháp khi có tình huống xấu xảy ra. Chính phủ gắn điều hành kinh tế - xã hội 6 tháng vào các chỉ tiêu nhiệm vụ kiểm điểm mặt được, chưa được nhằm đề ra biện pháp trong thời gian tới cho tốt hơn.
Trên tinh thần đó, Chính phủ đánh giá tình hình chung 6 tháng đầu năm đối mặt với khó khăn chung của thế giới, đặc biệt việc Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Về tình hình kinh tế, chỉ tiêu GDP bình quân tăng trưởng 5,18%, ba lĩnh vực công - nông nghiệp và dịch vụ tăng đều. Riêng công nghiệp mỗi tháng tăng 0,2%. Điều đó cho thấy, trong điều kiện khó khăn, Chính phủ vẫn sử dụng nhiều biện pháp đồng bộ vượt qua, đạt được con số đáng khích lệ.
Nhìn chung, theo Bộ trưởng Nguyễn Văn Nên  các chỉ số vĩ mô tiếp tục ổn định, kể cả tiền tệ và cán cân thanh toán xuất nhập, thu chi ngân sách có tăng; ngân sách vượt xa mục tiêu đề ra.
“Chính phủ thống nhất nhận định, tình hình vẫn khả quan. Đề ra thêm 2 mục tiêu tập trung cao nhất, nỗ lực bảo vệ chủ quyền quốc gia bằng các biện pháp hòa bình. Mục tiêu thứ hai, bảo đảm cho được an ninh, trật tự an toàn xã hội không để tái diễn tình trạng manh động như vừa qua. Còn các chỉ tiêu về kinh tế không điều chỉnh, cố gắng nỗ lực tập trung cao độ giải quyết tốt nhất các biện pháp tháo gỡ khó khăn”, Bộ trưởng Nguyễn Văn Nên cho biết.
Anh Vũ

Bắc Kinh 'khuấy sóng' biển Đông là 'hành động vô tích sự đến kỳ quặc'

Theo motthegioi.vn
Đăng Bởi  - 
Ảnh: Mô hình 2 tàu sân bay đổ bộ của hải quân Úc
Ảnh: Mô hình 2 tàu sân bay đổ bộ của hải quân Úc
“Trung Quốc thích cương với các nước láng giềng, lúc này hoặc lúc khác”, và Bắc Kinh “chơi rắn” trên biển Đông và biển Hoa Đông là “hành động vô tích sự đến kỳ quặc”, chỉ khiến các nước láng giềng châu Á tìm cách liên minh thân cận hơn với Mỹ, và Bắc Kinh chỉ làm khu vực này bất an hơn.
Đó là thông điệp chỉ trích Bắc Kinh thẳng thừng của Bộ trưởng Thông tin Úc  Malcolm Turnbull tại một hội thảo về an ninh và kinh tế ở Đại học quốc gia Úc.
“Chính sách của TQ, và tôi nghĩ thật kỳ quái là nó quá phản tác dụng, là họ luôn cương với hết nước láng giềng này tới nước lân bang khác, hoặc với tất cả các láng giềng vào những thời điểm khác nhau”, ông Turnbull nói.    
Là một trợ lý thân cận của Thủ tướng Úc Tony Abbott, ông Turnbull nói thẳng thừng: việc Bắc Kinh xích mích với Việt Nam và Philippines khi đòi chủ quyền biển Đông là “một động thái vô tích sự đến kỳ quặc” đối với sự tin cậy an ninh khu vực.
Ông nói, nếu căng thẳng ở biển Đông biến thành một cuộc chiến lôi cả Mỹ vào tham chiến, lãnh đạo TQ sẽ nhận phần thiệt hại lớn nhất về kinh tế, một cách không thể tránh được: “TQ bị mất mát nhiều hơn. Thứ TQ mất là uy tín, không phải theo nghĩa ai đó sẽ xâm chiếm TQ”.
“Họ thật sự chẳng có đồng minh nào trong khu vực, ngoại trừ Triều Tiên. Hậu quả là bây giờ nhiều láng giềng của TQ đều muốn thân cận với Mỹ nhiều hơn bao giờ hết”, ông Turnbull nói.
Lời chỉ trích của ông Turnbull được đưa ra ngày 30.6, sau khi Thủ tướng Abbott tuyên bố Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe sẽ thăm Úc trong tháng 7 và sẽ có bài phát biểu hiếm có ở quốc hội Úc.
Ông Abbott nói: “Chúng ta đều muốn hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Úc và Nhật gần đây đồng ý tăng cường quan hệ an ninh và thương mại để làm đối trọng với sự trỗi dậy của TQ”.
Theo báo Wall Street Journal, chính phủ Thủ tướng Abbott đang là đồng minh thân cận của Mỹ, trong khi TQ lại là đối tác thương mại lớn nhất của Úc. Quan hệ thương mại Úc - Trung trị giá 141 tỉ đô-la Úc (tương đương 133 tỉ USD) hồi năm 2013, với TQ mua 36% hàng xuất khẩu của Úc.
Chính phủ 9 tháng tuổi của ông Abbott hiện đang nỗ lực hoàn tất thương lượng với Bắc Kinh về một thỏa thuận thương mại tự do, trong khi vẫn củng cố mối quan hệ đồng minh với Mỹ, bằng một chương trình nâng cấp vũ khí hàng tỉ USD hồi năm 2013, khiến Úc trở thành nước mua vũ khí lớn hàng thứ bảy thế giới.
Hồi tháng 6, Mỹ đã kêu gọi các nước để giúp hạ nhiệt căng thẳng trên biển Đông, sau khi tàu TQ đâm va tàu Việt Nam, Bắc Kinh ngang ngược đưa giàn khoan Haiyang Shiyou 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. TQ cũng tranh chấp chủ quyền biển đảo với Đài Loan, Malaysia, Indonesia, Brunei, và tranh chấp với Nhật Bản trên biển Hoa Đông.
Úc sẽ canh giữ biển Đông và biển Hoa Đông?
Giữa tháng 6, phó chỉ huy lính thủy đánh bộ Mỹ ở Thái Bình Dương đã kêu gọi Úc xem xét khả năng đóng vai trò cảnh sát giữ gìn an ninh tại biển Đông và biển Hoa Đông, bằng cách cử các tàu chiến đổ bộ mới và khu trục hạm hộ tống tàu Mỹ và Nhật trên hải trình lên Bắc bán cầu.
Thiếu tướng Richard L.Simcock nói đây là cách để kéo giảm sự bất ổn an ninh do thái độ hung hăng của TQ, trong khi đồng minh và bạn bè của Mỹ trong khu vực chỉ muốn duy trì giữ nguyên trạng tình trạng an ninh suốt 70 năm qua ở châu Á, để tiếp tục duy trì quyền lợi kinh tế cho từng quốc gia trong khu vực.  
Hiện Úc đang củng cố liên minh với Mỹ và trong những năm qua giữ vai “phó cảnh sát trưởng” của Mỹ ở châu Á, theo báo Wall Street Journal.  Hai bên gần đây chỉ trích Bắc Kinh “chơi rắn” với các nước trong khu vực.
Sau khi Thủ tướng Abbott gặp Tổng thống Mỹ Barack Obama hồi trung tuần tháng 6, Nhà Trắng ra tuyên bố cho biết hai bên sẽ nâng cấp các tàu khu trục của hải quân Úc, với tên lửa có thể bắn rơi tên lửa đạn đạo của Triều Tiên và TQ.
Úc cũng đang đóng 2 tàu sân bay tấn công-đổ bộ nặng 27.000 tấn, trong nỗ lực hiện đại hóa quân sự vốn có tổng kinh phí 285 tỉ USD trong 10 năm. Họ dự tính mua các tàu ngầm mới, chiến đấu cơ tàng hình và lập lực lượng quân sự đông hơn.  
Bản vẽ minh họa tàu sân bay đổ bộ của hải quân Úc 
Hai chiếc tàu sân bay của Úc có kích cỡ một chiếc hàng không mẫu hạm cỡ nhỏ, có thể chở hơn 1.000 quân, xe tăng, trực thăng và chiến đấu cơ. Chiếc đầu tiên sẽ được đưa vào hoạt động từ năm 2015.
Bộ trưởng Quốc phòng Úc David Johnston nói hai chiếc tàu này có thể chở các chiến đấu cơ tàng hình F-35 phiên bản hải quân.
Chính phủ Úc còn nói việc xây dựng quân đội hiện đại là để bảo vệ các tài sản dầu khí trị giá hàng tỉ USD của Úc ở vùng biển Tây Bắc hẻo lánh.
Úc cũng tìm cơ hội chia sẻ công nghệ tàu ngầm với Nhật, ủng hộ việc Thủ tướng Nhật Abe thay đổi Hiến pháp, để Cục phòng vệ Nhật có thể ra nước ngoài bảo vệ đồng minh chống thái độ hiếu chiến của TQ.
Bảo Vĩnh (theo Wall Street Journal)
(Nguồn http://motthegioi.vn/quoc-te/ho-so/bac-kinh-khuay-song-bien-dong-la-hanh-dong-vo-tich-su-den-ky-quac-83366.html)

Việt Nam không cần đồng minh?

Cuộc họp báo sau kỳ họp thứ 7 Quốc hội do ông Nguyễn Hạnh Phúc Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội chủ trì. Có phóng viên đặt câu hỏi:
- “Trong cuộc điện đàm mới đây với ngoại trưởng Mỹ, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh có nói, Việt Nam sẵn sàng phối hợp với Mỹ triển khai các biện pháp cụ thể nhằm tiếp tục thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Mỹ theo tinh thần quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước. Quan điểm của ông thế nào?”.
Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc trả lời:
- “Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta là quan hệ với tất cả các nước trên thế giới. Vừa qua, với Mỹ hay Trung Quốc cũng thế. Sau 1975 thì quan hệ của chúng ta đã dần dần cải thiện và ngày càng tốt đẹp. Nhưng Việt Nam cũng là một nước độc lập, không liên minh, liên kết, đồng minh với nước nào, không dùng nước thứ ba, để chống lại nước khác. Quan điểm này đã được công khai nhiều lần”.
Đúng là quan điểm này đã được công khai nhiều lần, nhưng đó là ở thời đoạn mà Trung Quốc chưa đưa giàn khoan Hải Dương 981 cắm sâu vào trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ta, đưa hàng trăm tàu, có cả tàu chiến, máy bay có cả máy bay quân sự ngày đêm uy hiếp tàu cảnh sát biển và tàu cá ngư dân ta. Đó là thời đoạn chưa có chuyện Dương Khiết Trì sang Việt Nam mà theo Hoàn Cầu thời báo là nhằm răn dạy Việt Nam, “đứa con hoang đàng biết trở về”! Mới đây, Trung Quốc vừa công bố bản đồ mới “10 đoạn” bao gồm Hoàng Sa, toàn bộ Trường Sa và 80% Biển Đông. Vậy là họ chỉ còn chực chờ thời cơ để dùng vũ lực chiếm trọn những vùng biển đảo của Việt Nam. Đó là thủ đoạn ngàn đời của bọn bành trướng phương Bắc, từ Tàu Hoàng đế cho đến Tàu Tưởng, Tàu Mao. Hãy nhớ: Năm 1946 lợi dụng lúc chúng ta phải đối phó với Pháp, Tàu Tưởng chiếm đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa, đảo Ba Bình thuộc Trường Sa. Năm 1950 Tưởng thua chạy rút bỏ cả hai nơi. Năm 1956, lợi dụng quân Pháp rút đi, Tàu Tưởng chiếm lại Ba Bình, Tàu Mao chiếm lại Phú Lâm. Tháng 1-1974, lợi dụng Việt Nam Cộng hòa suy yếu, Tàu Mao chiếm toàn bộ phần còn lại của Hoàng Sa. Năm 1988 lợi dụng chúng ta giúp bạn Campuchia, chúng tấn công Trường Sa giết 64 hải quân ta, chiếm 7 đảo và bãi đá thuộc Trường Sa.
Sau thỏa hiệp Thành Đô 1990, chúng ta cứ tưởng đã cầm chắc “16 chữ vàng” và “4 tốt” sẽ đảm bảo “Sau kiếp nạn anh em còn đó. Trông nhau cười thù oán sạch không” (Thơ Giang Vĩnh đời Thanh. Giang Trạch Dân đọc tặng Nguyễn Văn Linh tại Thành Đô). Quá vui mừng, Nguyễn Văn Linh đáp lại cả bốn câu thơ tiếng Tàu, câu thứ tư là: “Thiên tải tình nghị hựu trùng kiến”. (Tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại). Nào hay đã bị chúng cho một quả lừa! Năm 2007, Trung Quốc bắt đầu bắn giết, bắt ngư dân ta đòi tiền chuộc. Ngày 26-5-2011, một bước ngoặt mới, chúng cắt cáp tàu Bình Minh 2 của Việt Nam đang thăm dò trong vùng biển đặc quyền kinh tế của mình. Tân Hoa Xã còn lớn tiếng: “Việt Nam láo xược xâm phạm vùng biển của Trung Quốc”. Thời báo Hoàn Cầu dọa sẽ “lấy máu Việt Nam tế cờ cho cuộc Nam tiến”.
Phản ứng hành động láo xược của Bắc Kinh, ngày 10 tháng 7-2011, hàng ngàn người Việt Nam, gồm các lão thành cách mạng, trí thức, đảng viên và nhân dân trong, ngoài nước ký “Bản kiến nghị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay.” Đề mục thứ nhất của Bản kiến nghị là “I- Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ đang bị đe dọa nghiêm trọng”. Câu kết của Đề mục là: “Việt Nam càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới!”.
Bản kiến nghị, đã mô tả rất rõ bộ mặt của kẻ thù. Tiếc thay, đám mây mù ý thức hệ vẫn che mắt nhiều người. Từ đó đến nay có thể kể không biết bao nhiêu lời hay ý đẹp của nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam ca tụng mối quan hệ Việt - Trung. Đáng lo nhất là từ năm 2009, mỗi năm Bộ Quốc phòng đều cử một đoàn sĩ quan cao cấp sang học tập ở Học viện chính trị Tây An của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Bởi đặt hết lòng tin vào “16 chữ vàng” và “4 tốt”, cho nên ngày 1-5-2014, khi Trung Quốc đưa giàn khoan khổng lồ đặt xuống vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam thì chúng ta hoàn toàn bất ngờ! Phải mất đến 5 ngày sau, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh mới có cuộc điện đàm với Bộ Ngoại giao Trung Quốc. Mất 6 ngày sau, chiều ngày 7-5, mới có cuộc họp báo của Bộ Ngoại giao. Từ đó đến nay, báo chí và các phương tiện truyền thông đã có những lời vạch rõ mưu đồ xâm lược của Trung Quốc, mà chỉ mấy tháng trước đây thôi, nếu nói như vậy đã bị coi là có tội. Tuy vậy, lòng dân vẫn chưa yên, bởi còn quá nhiều âu lo chưa được giải tỏa:
Phát ngôn của những người có trọng trách rất so le nhau. Trong khi Thủ tướng nói rõ ràng, mạnh mẽ về chủ quyền bị xâm phạm thì Bộ trưởng Quốc phòng cho rằng “trong quốc gia, hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng huống chi là các nước láng giềng […]Việt Nam và nước bạn Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển đảo, nên đôi khi cũng có va chạm […]”. Người dân không khỏi đoán già đoán non: Liệu lãnh đạo nước ta có thống nhất với nhau, thực tâm kiện Trung Quốc, hay chỉ chống đỡ trước sự phẫn uất của nhân dân và bảo vệ tính chính danh của Đảng? Chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm, Chủ tịch Hội Khoa học, Kỹ thuật và Kinh tế biển TP HCM, đặt câu hỏi với Chủ tịch nước: “Nhân dân, đặc biệt là trí thức, đặt vấn đề Đảng, Nhà nước ta nhìn nhận quan hệ thực chất với Trung Quốc như thế nào? Có còn là đồng chí tốt, bạn bè tốt, láng giềng tốt, đối tác tốt nữa không? Hay đây là chiêu bài được nêu lên nhưng thực tế họ, Trung Quốc không có cái gì tốt đối với chúng ta cả?”. Chủ tịch nước có nhiều ý kiến tích cực khẳng định chủ quyền đất nước, nhưng cử tri chờ đợi và bị hẫng hụt bởi ông không trả lời câu hỏi rất quan trọng đó. Chủ tịch nước nhận định rất đúng rằng “tình hình sẽ còn gay gắt, phức tạp hơn chỉ trừ khi nào họ nói họ từ bỏ đường chín đoạn hoặc chúng ta từ bỏ chủ quyền – mà điều này chắc chắn không người dân Việt Nam nào chấp nhận”. Nhưng sau đó ông lại cho rằng: “Phải kiên trì đấu tranh, năm nay không xong thì năm tới, 10 năm này không xong thì 10 năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu”. Thưa Chủ tịch, nói như vậy chỉ chứng tỏ được sự kiên trì, chứ không thực tế, do đó không đem lại hi vọng và niềm tin. Ông bà chúng ta có câu “Để lâu cứt trâu hóa bùn”. Và luật pháp quốc tế cũng thế, chúng ta chỉ còn 10 năm nữa là hết thời hiệu để kiện Trung Quốc đòi chủ quyền Hoàng Sa. Mọi người Việt Nam đang sống phải nhận lấy trách nhiệm của thế hệ mình đúng như lời dạy của Đức Trần NhânTôn: “Một tấc đất của tiền nhân để lại, quyết không để lọt vào tay kẻ khác”! Chúng ta không được phép trao gánh nặng lại cho con cháu đời sau để chúng phải bó tay, không thể giải quyết! Mới đây giáo sư Thayer cảnh báo: “Việt Nam phải lên tiếng ngay bây giờ, nếu không sẽ mất cơ hội mãi mãi”.
Chúng ta quá chừng mực, thậm chí e dè khi lên án hành động gây hấn, xâm lược của Trung Quốc, trong khi đó lại muốn các nước ASEAN, Mỹ và phương Tây phải lớn tiếng lên án Trung Quốc bênh vực Việt Nam. Ngày 5-6, tạp chí Cộng sản đăng lại bài “Cần có sự can thiệp của Mỹ trong tranh chấp ở Biển Đông” (năm ngày sau rút xuống). Ngày 24-6 nguyên đại sứ Việt Nam tại EU Tôn Nữ Thị Ninh nói với hãng tin Đức DW: “EU phải hiện diện, cất tiếng nói rõ ràng hơn, to hơn và ít nhất cũng gọi đúng tên các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông”. Bị cướp vào nhà, lại bảo chúng như người trong gia đình cũng có lúc bất hòa, nhưng lại đòi hàng xóm phải gọi chúng đúng là kẻ cướp và đuổi chúng giùm! Không muốn làm đồng minh với bất cứ nước nào, nhưng lại muốn các nước phải bảo vệ mình như một đồng minh! Làm được điều đó còn khó hơn là hái sao trên trời!
Vì sao Trung Quốc chọn thời điểm 1-5-2014 đặt giàn khoan vào sâu trong vùng đặt quyền kinh tế của Việt Nam? Trước đó không lâu, Trung Quốc gây căng thẳng với Philippines, rồi với Nhật ở biển Hoa Đông, làm như chiến tranh sắp nổ ra ở đó. Dương Đông kích Tây và đánh vào chỗ bất ngờ, vốn là binh pháp Tôn Tử của Tàu. Từ lâu chúng đã xác định hướng bành trướng là phía Nam, mấu chốt là Việt Nam. Lúc này Việt Nam đang lâm vào khủng hoảng, nguy hiểm nhất là khủng hoảng niềm tin, và về đối ngoại cũng là lúc cô đơn nhất. Mỹ đang bận rộn chuyện Ucraina. Mặc dù từ năm 2013, đã có lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, nhưng đến chuyến công du tháng 4-2014 tới bốn nước châu Á, Tổng thống Obama vẫn không đến Việt Nam và Mỹ vẫn chưa đồng ý bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Còn nước Nga mà Việt Nam coi như đồng minh cũ và đặt nhiều hi vọng được che chở thì đang khẩn trương chuẩn bị tập trận với Trung Quốc! Vậy thì Trung Quốc, đồng minh lớn nhất và duy nhất của Việt Nam, bất ngờ chĩa mũi giáo vào Việt Nam, đâu còn phải sợ ai!
Hai tháng qua, chúng ta trấn an mình bằng dư luận quốc tế, mà phần lớn người ta chỉ là yêu cầu hai bên giải quyết bằng biện pháp hòa bình và theo luật pháp quốc tế. Xưa nay bọn xâm lược không hề sợ dư luận, chúng chỉ sợ thua trận và thiệt hại kinh tế. Do đó, từ thượng cổ tới hiện đại, phương Đông cũng như phương Tây, trong tất cả các cuộc chiến tranh giành giật đất đai, người ta đều tìm kiếm đồng minh. Trung Quốc đã có những bậc thầy về tổ chức đồng minh với các chiêu “hợp tung”, “liên hoành”. Tôn Tử, tác giả bộ binh pháp lừng danh, là người giúp vua Ngô liên minh với hai nước nhỏ là Đường và Thái, nhờ đó chỉ với ba vạn quân, đã có thể đánh bại 25 vạn quân nước Sở. Ngày nay, dù xu thế của thế giới là hòa bình, hợp tác, nhưng ở các vùng nóng đều có thể thấy sự tìm kiếm đồng minh. Nước ta, ngay khi đang “một cổ hai tròng”, Việt Minh đã “gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít” nhờ đó mà có toán “Con nai” của Mỹ nhảy dù xuống Việt Bắc huấn luyện cho quân giải phóng của Võ Nguyên Giáp. Rồi cả hai cuộc kháng chiến, Việt Nam đều dựa vào đồng minh để giành được chiến thắng. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều bài học bổ ích trong việc chọn đồng minh của các nước láng giềng Nhật, Hàn, Philippines. Cuối thế kỷ trước, cả ba nước này đã từng muốn nới lỏng, hoặc thoát dần khỏi quan hệ đồng minh với Mỹ: Nhật đặt thời hạn cho Mỹ rút quân khỏi Okinawa. Hàn yêu cầu Mỹ có kế hoạch giảm số quân đang có mặt ở nước này. Phi đòi lại cảng Subic và các căn cứ quân sự. Nhưng khi Trung Quốc trỗi dậy, đe dọa với láng giềng thì lập tức cả ba nước nói trên đều nhanh chóng thay đổi quyết sách chiến lược, ráo riết mời Mỹ gấp rút trở lại. Do đó, Mỹ tuyên bố quần đảo Senkaku được che chở bằng thỏa thuận quân sự giữa Washington với Tokyo. Mới đây, Tổng thống Obama nói bất cứ nơi nào trên thế giới khi các đồng minh của chúng ta bị đe dọa thì quân đội Mỹ buộc phải can thiệp. Tháng 4-2014 Mỹ viện trợ cho Philippines 50 triệu USD, riêng hải quân được cho thêm 40 triệu USD và 3 tàu tuần tra lớn lớp Hamilton… Ba nước nói trên đâu có vì chọn đồng minh chiến lược mà họ bị mất độc lập dân tộc? Phải chăng đã đến lúc chúng ta không nên khư khư “Việt Nam không liên minh với một nước để chống nước thứ ba”? Tình thế đang đòi hỏi: “Việt Nam cần phải tìm mọi cách để liên minh được với các nước để chống lại kẻ nhất quyết sẽ xâm lược đất nước mình”.
Tuy nhiên chớ tưởng chỉ cần chúng ta muốn liên minh với nước nào đó thì ắt được người ta đón nhận. Từ ngàn xưa, các nhà chiến lược đều có tiêu chuẩn để chọn đồng minh. Tôn Tử cho rằng “chưa biết ý đồ chiến lược của một nước thì không thể tính đến chuyện kết giao. ” Ông cho rằng một quốc gia hùng mạnh không phải vì có một đội quân lớn mà là trước hết, phải là quốc gia biết lấy chữ “đạo” làm đầu, tức là có “Một nền chính trị hợp lòng dân, nhờ đó mà vua tôi đồng tâm, nhất trí”. Trần Hưng Đạo của ta nói “Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rể, bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước vậy”. Một người biết lắng nghe và coi trọng ý kiến của những nông dân đan giỏ, mò tôm, thuần hóa voi như với Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng thì chữ “sức dân” của ông phải được hiểu là gồm cả tâm, trí và lực. Ngày nay, Mỹ và các nước phương Tây đặt tiêu chuẩn cao nhất để chọn đồng minh là dân chủ và nhân quyền. Lắm khi vì lợi ích trên bàn cờ chính trị, các nhà cầm quyền đã châm chước khi xét tiêu chuẩn đối với các quốc gia mà họ cần lôi kéo, nhằm cô lập đối thủ nặng ký và hung bạo. Tuy nhiên điều ấy có thể bị nghị viện và nhân dân nước họ phát hiện, phản đối. Quan hệ hợp tác Việt - Mỹ đã phát triển nhiều mặt, nhưng cho đến nay, Mỹ vẫn chưa đồng ý bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, chưa công nhận Việt Nam thực sự có nền kinh tế thị trường. Vậy mà, Foreign Policy (Chính sách Ngoại giao), một tạp chí có tiếng của Mỹ, số ra ngày 1-2-2011 có bài: “Các đồng minh đáng xấu hổ của Hoa Kỳ”, chỉ trích chính phủ Mỹ quá dễ dãi đối với nhiều hành động vi phạm nhân quyền của Việt Nam! Tại sao vậy?
Bởi vì thật trớ trêu là chính sách đối nội và đối ngoại của nước ta giống hệt Trung Quốc, bệnh trạng tham nhũng của hai bên cũng hết sức giống nhau. Hai nước có chung một lập luận về “các thế lực thù địch từ Mỹ và phương Tây lợi dụng dân chủ và nhân quyền âm mưu lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa”. Thật ra, không hề có cái gọi là dân chủ và nhân quyền của phương Đông, hoặc của riêng Trung Quốc và Việt Nam! Nước ta là thành viên của Liên Hiệp Quốc. Nhà nước ta đã cam kết thực hiện Tuyên ngôn Nhân quyền và các Công ước của Liên Hiệp Quốc. Vấn đề là Việt Nam và Trung Quốc có cách hiểu các điều khoản của Tuyên ngôn và các Công ước của Liên Hiệp Quốc không giống cách hiểu của hơn 100 quốc gia khác trên thế giới. Rất dễ dàng để dẫn ra vô vàn ví dụ về các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, lập hội, biểu tình, bầu cử và ứng cử… Nhưng chỉ xin nêu một ví dụ về quyền tự do ngôn luận mà theo Voltaire “[…] là nền tảng của tất cả các quyền tự do khác. Không có tự do ngôn luận sẽ không có các quốc gia tự do”. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Nhà nước Việt Nam đã ký kết gia nhập ngày 24-9-1982. Nhà xuất bản TP HCM xuất bản năm 1997) ở Điều 19 với nội dung như sau:
1- Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp.
2- Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ.
3- Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó có thể dẫn tới một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để:
a/ Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác;
b/ Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”.
Hơn 100 quốc gia đều hiểu nội dung của Điều 19 là: Mọi công dân đều có quyền phát biểu quan điểm của mình đối với mọi học thuyết, mọi vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục mà không bị quy chụp, đàn áp, buộc tội. Tức là mọi người có quyền không đồng ý đối với một hệ tư tưởng, nghị quyêt của đảng cầm quyền, chính sách của chính phủ, khi nhận thấy nó có hại cho nhân dân, đất nước. Trong ngày nhận chức nhiệm kỳ đầu, Tổng thống Obama nói: “Một chính quyền không phải đối mặt với một giới truyền thông cương trực và mạnh mẽ, đó không phải lựa chọn của nước Mỹ!”. Mọi công dân đều có quyền tìm kiếm, nhận tin tức bao gồm những luận điểm mới, học thuyết mới và phổ biến cho mọi người bằng mọi hình thức. Mọi công dân đều có quyền xuất bản báo chí và báo chí chỉ trung thành với công chúng, với dân tộc, tôn trọng sự thật, không bị kiểm duyệt, không bị buộc phải viết theo định hướng, nghị quyết, không bị bưng bít thông tin vì lợi ích nhóm, vì lợi ích của đảng phái, kể cả Đảng cầm quyền. (Chỉ trừ hai điểm a và b nói trên).
Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc có cách hiểu Điều 19 giống nhau: Mọi công dân phát biểu ý kiến không được trái với quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng lãnh đạo. Báo chí là công cụ của Đảng phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng lên trên hết, phải lấy nhiệm vụ tuyên truyền, cổ vũ và tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng làm thước đo hiệu quả của báo chí. Phó Trưởng ban Tuyên Giáo Trung ương Nguyễn Thế Kỷ nói trong cuộc hội thảo quốc gia về Đạo đức nghề báo: “Cần tăng cường giáo dục đạo đức cho sinh viên báo chí, cho phóng viên trẻ; nâng chất lượng đầu vào đối với sinh viên báo chí, thậm chí “phải xét cả yếu tố nhân thân tương tự như với sinh viên vào các trướng công an, quân đội””. (báo Tuổi Trẻ ngày 12-10-2012). Trong dịp kỷ niệm ngày báo chí cách mạng Việt Nam 21-6 vừa qua, suốt một tuần, đài truyền hình HTV9 của TP HCM mở đầu bằng bài hát với điệp khúc: “Nhà báo, nhà báo Việt Nam, một lòng trung thành với Đảng!”. Tư nhân không được phép ra báo, vì e rằng sẽ làm rối dư luận xã hội. Ban Tuyên giáo của Đảng có trách nhiệm chỉ đạo báo chí thực hiện định hướng tuyên truyền từng thời kỳ, việc nào cần phải nói mạnh, nói kỹ, việc nào không nên nói, không được phép nói. Không chấp nhận có báo tư nhân.
Tình hình phát triển đất nước hiện nay, theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Động lực mà những cải cách trước đây đã không còn đủ mạnh để thúc đẩy phát triển” và “Nguồn động lực mới phải đến từ Đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân”. Đúng vậy, vấn đề là phải dám quyết tâm thực hiện, bởi không còn thì giờ để chần chừ nữa! Nhà nghiên cứu người Pháp Valérie Niquet cho rằng Trung Quốc đang bị suy yếu từ bên trong, cho nên cố thực hiện bành trướng để kích thích chủ nghĩa dân tộc, hòng tìm lại tính chính đáng của Đảng Cộng sản đã bị hao mòn. Trong khi đó, tạp chí tình báo nổi tiếng của Anh (Jane’s Intelligence Weekly ngày 27-6-2014) lại có nhận định: “Tranh chấp Biển Đông sẽ thách thức sự ổn định của chính phủ Việt Nam”; bởi vì: “Tính chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam là dựa vào lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm giành độc lập dân tộc”. Ngày nay, Đảng đang bị đứng trước một câu hỏi: “Phải chăng Đảng Cộng sản Việt Nam không có đủ khả năng đối phó với sự xâm lược của Trung Quốc?” Trong dân gian Việt Nam đang lan truyền hai câu có hàm ý như thế: “Đi với Tàu thì mất nước, nhưng còn Đảng. Đi với Mỹ thì còn nước, nhưng e sẽ mất Đảng”. Phải giải quyết dứt khoát vướng mắc tư tưởng này thì mới có thể yên lòng đổi mới thể chế, tìm được đồng minh vì sự nghiệp chống bành trướng Bắc Kinh, bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân bao giờ cũng rất tinh tường và công bằng, nếu một đảng dám đặt sự tồn vong của Tổ quốc lên trên vận mệnh của mình thì nhất định sẽ được nhân dân bảo vệ, tin yêu. Nhân đây xin nhắc lại, một chuyện rất đáng nhớ: Năm 2010, với cương vị Chủ tịch ASEAN, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tới Myanmar, chuyển thông điệp ASEAN cho các tướng lĩnh quân phiệt cầm quyền: “Mong muốn các nhà lãnh đạo Myanmar triển khai có hiệu quả lộ trình dân chủ, vì hòa bình, hòa hợp dân tộc, tổ chức bầu cử công bằng, dân chủ với sự tham gia của tất cả các đảng phái, qua đó sớm ổn định để phát triển đất nước”. Các tướng lĩnh cầm quyền Myamar đã nhanh chóng nhận thức, đó là con đường duy nhất để đưa đất nước thoát khỏi sự o ép của Trung Quốc. Họ không ngần ngại từ bỏ chế độ độc tài quân phiệt, đưa những tù nhân chính trị suốt hàng chục năm đối lập như bà Aung San Suu Ky lên địa vị đối tác, cùng ngồi với nhau bình đẳng bàn việc nước; quyết định xóa bỏ chế độ kiểm duyệt báo chí, rồi cho xuất bản báo chí tư nhân; đặc biệt là quyết định hủy bỏ dự án đập thủy điện của Trung Quốc 3,6 tỉ USD. Sau cải cách vĩ đại nói trên, Myanmar được Tổng thống Obama và nhiều nguyên thủ quốc gia tới thăm, ký kết viện trợ.
Chẳng lẽ, một Đảng vốn “không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” mà ngày nay trước vận nước hiểm nguy lại không thể chọn một hành động cao cả ngang tầm với các tướng lĩnh độc tài quân phiệt Myanmar?
Ngày 30-6-2014

T. V. C.
(Theo Bauxite Việt Nam : http://boxitvn.blogspot.com/2014/07/viet-nam-khong-can-ong-minh.html)