Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

Một bài quốc ca giá bao nhiêu?

Posted: 07/09/2015 in Bình Luận, Tuấn Khanh
Tuấn Khanh
van_cao-tien_quan_ca
Câu chuyện đề nghị thu tiền tác quyền của bài Tiến quốc ca ở Việt Nam hiện nay, gợi lên không ít điều phải bàn, liên quan đến danh dự một quốc gia, cũng như của chính tác giả bài hát đó. Tuy chuyện ông Phó Đức Phương, giám đốc Trung bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC), nêu ra có vẻ rất lạ thường, như lại là cơ hội để công chúng được một dịp nhìn thấy mọi góc cạnh của ứng xử, của hiện trạng về bài quốc ca tại Việt Nam.
Có lẽ, trong lịch sử Việt Nam cho đến nay, chưa có bài hát nào được sử dụng nhiều bằng bài Tiến Quân Ca, bởi tính khách quan, đó là bài hát được Quốc hội của miền Bắc Việt Nam, năm 1946, lúc đó còn mang tên là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, chọn là bài hát chủ đề giới thiệu một chính thể – một national anthem, mà cho tới nay chưa có sự thay đổi chính thức nào. Mặc dù sau khi Việt Nam không còn chiến tranh và chính thức đổi tên là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bài hát này vẫn được vang lên với tư cách là một bài quốc ca.

Nếu tính thành tiền tác quyền, bằng giá của một ca khúc bình thường mà VCPMC vẫn thu hiện nay, tiền tác quyền của của riêng bài hát này (kể cả truy thu) của nhạc sĩ Văn Cao có thể lên đến hàng trăm tỉ đồng Việt Nam. Và nếu được như vậy, nhạc sĩ Văn Cao có thể đi vào lịch sử âm nhạc thế giới qua sự kiện 20 năm sau khi mất, vẫn làm ra những số tiền khổng lồ. Hãy thử tưởng tượng, nếu còn sống đến lúc này, có lẽ nhạc sĩ Văn Cao sẽ là một trong những nghệ sĩ – đại gia hàng đầu của Việt Nam.
Tiếc thay lúc sinh thời, đời của ông không được một phần nho nhỏ nào như vậy. Nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995) ra đi trong sự thanh bạch và nghèo khó. Tháng 2.1993, trong chuyến đi của tổng thống Pháp François Mitterrand đến Hà Nội, Việt Nam, những người cùng thời kể lại rằng ngôi nhà của nhạc sĩ Văn Cao bất ngờ được chọn là một trong những điểm ghé qua, bên cạnh danh sách các điểm đến là chiến trường Điện Biên Phủ xưa, Văn Miếu… Khi ấy, chỉ được biết trước một vài tiếng đồng hồ, nhà nhạc sĩ Văn Cao đã được vội vã tổ chức lại cho tươm tất hơn, cũng như phía chính phủ Việt Nam cũng bất ngờ cho biết sẽ lập khoản trợ cấp vài trăm đồng trong một thời gian, vì nhận ra ông đang có cuộc sống quá chật vật.
Nhưng ngay lúc sinh thời, khi tác phẩm của mình được chọn làm quốc ca, nhạc sĩ Văn Cao lúc đó ắt hẳn cũng mang nhiều tâm trạng khó tả, không thể nào lên tiếng bất cứ điều gì được. Khó mà biết được ông lặng lẽ hay ông im lặng.
Năm 1956, khi tham gia phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm của các trí thức hàng đầu Việt Nam lúc bấy giờ, nhạc sĩ Văn Cao đã phải đối đầu với nhiều đợt phủ nhận tác phẩm của ông. Năm 1958, chính phủ miền Bắc Việt Nam đã dự định dùng bài Bài ca cách mạng tiến quân của Đỗ Nhuận để thay cho Tiến Quân Ca, thế nhưng không hiểu sao, bài hát Tiến Quân Ca cứ in vào tâm trí người dân, không đổi được. Dù vẫn phải sử dụng, nhưng ít ai để ý là nhiều năm liền sau đó, đến tận năm 1980, chính sách dùng quốc thiều để thay cho các buổi hát quốc ca đã được áp dụng khắp nơi.
Có lẽ vì hiến pháp mới, được công bố năm 1980 lại không thấy ghi chính thức chọn Tiến Quân Ca là quốc ca (chỉ ghi là thông qua), nên đến ngày 28/4 năm 1981, đã có hẳn một chương trình thi viết quốc ca mới do báo Nhân Dân đột ngột thông báo, kéo dài trong hai năm, với sự chấp thuận của ông cố tổng bí thư Lê Duẫn và hội đồng xét duyệt như các ông Trường Chinh, Xuân Thủy. Ngoài ra có có nhà thơ Cù Huy Cận, thứ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin và nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, chủ tịch Uỷ ban Văn hoá và Giáo dục của Quốc hội là chủ tịch và phó chủ tịch Ban Giám khảo. Theo thống kê, đã có gần 30.000 bài hát từ khắp nơi gửi về nhưng không có bài hát nào được chọn làm quốc ca mới. Đó cũng là một giai đoạn mệt mỏi nhạc sĩ Văn Cao, vì cái giá của một bài quốc ca mà ông đang đối diện, cũng lơ lững không khác nào lưỡi gươm của Damocles.
Trãi qua những gập ghềnh ấy, thật lạ, không hiểu sao người dân vẫn chọn Tiến Quân Ca làm bài hát của mình. Mặc dù lời bài hát này, trong thời điểm hiện tại nghe đầy xương máu, nhưng trong lần nói chuyện lịch sử với ông Văn Cao, tổng thống Pháp François Mitterrand đã so sánh bài Tiến Quân Ca với La Marseillaise – những bài hát được chọn làm quốc ca, đã ghi lại hình ảnh đau thương lịch sử trong chiến tranh thế giới thứ hai và lòng ái quốc có thể đánh đổi bằng cái chết.
Trong lịch sử của những người nghệ sĩ, Văn Cao cũng là một nghệ sĩ yêu nước đến mức sẳn sàng đánh đổi bằng cái chết của mình. Vì từ năm 1944, khi mới 21 tuổi, Văn Cao đã sẳn sàng dùng bàn tay nghệ thuật của mình để đặt vào cò súng, trở thành những ám sát viên lừng danh của Việt Minh của Hà Nội. Ông ám sát thành công Đỗ Đức Phin, một người làm việc cho Pháp tại Hải Phòng, và một lần khác (1945) là ám sát Cung Đình Vận ở Huế, nhưng lần này không thành công. Bài hát Tiến Quân ca của ông cũng nói rõ tâm tình của một thanh niên chứng kiến nạn đói và những khí thế cách mạng thời đó. Ông cũng là người hăng hái lên tiếng kêu gọi cải cách và xây dựng lại xã hội trong nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm. Năm 2009, khi thời Việt Nam mở cửa đến, ông được phát hành tập thơ Lá, lạ thay trong đó là những dòng đọc mà nghe sao nghẹn ngào “Có lúc một mình một dao giữa rừng đêm không sợ hổ, có lúc ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt, có lúc nước mắt không thể chảy ra ngoài được…” (bài viết năm 1963).
Trả bao nhiêu cho đủ với những gì mà một nghệ sĩ lớn, một tác giả đã viết ra bằng tâm huyết của mình, được nhân dân chọn làm quốc ca từ mấy mươi năm nay? Mà trên thế giới, cũng ít có tác giả nào viết quốc ca lại đòi tiền, vì đó là danh dự và sứ mạng của một người được cuộc sống ban tặng. Nhưng cách nói của nhạc sĩ Phó Đức Phương thì lại nhắc cho mọi người nhớ rằng có rất nhiều cái chúng ta đã quên, thậm chí quên một cuộc đời đáng nhớ và kính trọng đã viết nên bài hát đó, mà mỗi ngày trên nước Việt Nam này luôn vang lên ồn ào trong sự vô tâm, vô tình, giả tạo. Chúng ta có nợ nhạc sĩ Văn Cao không?
Cái nợ không nhỏ đó cũng thuộc về nhà nước hiện hành. Năm 2010, khi bà Nghiêm Thúy Băng gửi thư cho Quốc hội, hiến tặng ca khúc này cho chính phủ. Đã không ai trả lời. Thậm chí không ai hỏi han. Thật vô phúc cho người dân Việt Nam khi hôm nay có những người đại diện hời hợt và sợ trách nhiệm như vậy. Mãi đến khi có sự cố ồn ào xảy ra, thì mới có đại diện Bộ Văn Hóa mới cất tiếng trả lời suông là đã thấy thư hiến tặng. Cho đến nay, không hề có một thư trả lời hay quyết định tiếp nhận tử tế nào với Tiến Quân Ca. Mọi thứ vẫn đang treo lơ lững như định mệnh của chính người nghệ sĩ tài hoa này, suốt 30 năm, sau thời kỳ Nhân Văn – Giai Phẩm.
Một năm sau khi nhạc sĩ Văn Cao mất, nhà nước Việt Nam trong khuynh hướng đổi mới, đã truy tặng cho ông huân chương Hồ Chí Minh về đóng góp của ông. Kể cả bài Tiến Quân Ca và huân chương ấy, giá tác quyền tưởng thưởng nên được ghi xuống, nên là bao nhiêu?
Thật buồn cười khi rất nhiều quan chức, tỉnh thành lên các dự án xây văn miếu, đền thờ, tượng đài ngoại quốc, vô danh… lên đến hàng ngàn tỉ, nhưng với con người thật – việc thật, thậm chí với bài hát mà họ vẫn mấp máy môi mỗi đầu tuần theo bổn phận – thì có thể họ đã quên. Cho đến giờ phút này, Văn Cao vẫn là một nghệ sĩ lưu danh hậu thế của Việt Nam và là tác giả của quốc ca, mà chưa hề có một nhà tưởng niệm nào xứng đáng, ở nơi chốn sinh ra mình.
Lòng biết ơn và thái độ trân trọng của một chính phủ đối với ông còn chưa đủ, thì nói gì thu được đủ tiền bàn quyền với bài quốc ca có số phận long đong ấy.
Tuấn Khanh
Nguồn: Blog Tuấn Khanh (RFA)
 http://sangtao.org/2015/09/07/mot-bai-quoc-ca-gia-bao-nhieu/

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2015

Từ Plato, Aristotle đến Từ Huy, Thu Dung (Nguyễn Gia Kiểng)


"...Hợp quần không chỉ gây sức mạnh mà còn tạo điều kiện để con người trở thành dũng cảm, nghĩa là hết hèn. Người Việt Nam thường không biết như thế, và họ hèn vì không biết lý do khiến mình hèn...."

Plato (áo đỏ) và Aristotle
Từ Plato, Aristotle đến Từ Huy, Thu Dung (Nguyễn Gia Kiểng)
 
Trong một thời gian dài tôi không hiểu tại sao tôi rất chán môn đạo đức học (ethics), dù đó là một phần quan trọng của triết và gắn bó chặt chẽ với một môn mà tôi thích: chính trị. Biết thế nhưng đã bao nhiêu lần tôi muốn đọc đạo đức mà không được. Cứ đọc được vài giờ là chán tới cổ. Có thể là vì tôi không có cốt đạo nhưng cũng vì một lý do khác mà về sau tôi mới hiểu. Đó là vì các tác giả viết về đạo đức đều sai phương pháp. Họ loay hoay giảng giải điều không thể giảng giải được, nghĩa là những giá trị đạo đức. Những giá trị này – thí dụ như không được hung bạo, ăn cắp, nói dối, phản bội, nuốt lời hứa; phải thực thà, lương thiện, thủy chung, thương yêu v.v. - không thể giải thích được. Chúng có sẵn trong thiên nhiên và trong DNA của mỗi người và là nền tảng để lý luận và giải thích những điều khác. Không có thì thôi chứ không thể thảo luận gì cả.
Plato và Aristotle
Trong số những điều ít ỏi tôi còn nhớ về môn đạo đức học có sự khác biệt giữa Plato và Aristotle. Xin tóm lược một cách rất sơ sài.
Plato (438 -348 trước Công Nguyên) là học trò của Socrates (470 – 399 tr. CN) và nói rằng tất cả những gì ông nói ra chỉ là chép lại những mẩu đối thoại của Socrates. Nhưng chép lại làm sao có thể hay đến thế được, cùng lắm Plato đã chỉ lấy cảm hứng từ thày để viết thôi. Plato đã kính phục thày mình và ông hoàn toàn có lý. Socrates là người đầu tiên trên thế giới đã chấp nhận chết vì ý kiến của mình. Ai cũng phải ngưỡng mộ Socrates, dù có thể bác bỏ quan điểm về chính quyền mà Plato viết ra và nói là của ông. Aristotle (384 – 322 tr. CN) là học trò của Plato.
Plato và Aristotle trình bày hai quan điểm rất khác nhau khi trả lời cùng một câu hỏi căn bản của đạo đức học là "phải sống và hành động như thế nào?" Plato, tư biện và giáo điều, cho rằng phải vừa tu thân -nghĩa là liên tục tập luyện để sống một cách đúng đắn- vừa học để mở mang trí tuệ, trong đó học quan trọng hơn bởi vì sự gian trá chỉ là hậu quả của u mê, con người khi đã hiểu biết tất nhiên sẽ sống lương thiện. Học đối với Plato là học toán và triết, bởi vì vào thời đại của ông toán và triết là tất cả. Theo Plato những kẻ đã tu thân và quán triệt toán và triết sẽ biết sống và nêu gương sống, còn quần chúng phải phục tùng và noi gương họ mà sống. Đặc điểm và cũng là khuyết điểm của Plato là ông hình như chỉ coi trọng những phần tử tinh hoa. Aristotle, thông thái và ôn hòa, đề ra thuyết trung dung (the golden mean, le juste milieu) cho rằng mỗi người tuy cũng phải hướng thượng và noi gương những người tài đức nhưng cứ tùy theo khả năng và bản chất của mình mà thể hiện những giá trị đạo đức ở mức độ phù hợp với mình cũng là tốt rồi.
Hầu như mọi người đều cho rằng Aristotle có lý hơn Plato. Tôi cũng rất ngưỡng mộ Aristotle và tin rằng ông hơn Plato trên rất nhiều điểm – trò hơn thày là có tiến bộ và đáng mừng- nhưng càng về sau tôi càng thấy ít nhất về quan điểm đạo đức Plato có lý hơn. (Trên một môn khác tôi cũng đánh giá Plato cao hơn, đó là môn tri thức học (epistemology), nhưng đó là một vấn đề nằm ngoài khuôn khổ của bài này).
Trước hết phải nói rằng việc so sánh quan điểm của hai nhà triết vĩ đại này có phần khập khiễng. Tuy cùng bắt đầu với câu hỏi "phải sống và hành động như thế nào" nhưng sau đó hai người đã đi theo hai hướng hơi khác nhau. Plato nhất quyết trả lời trực tiếp câu hỏi này trong khi Aristotle cho rằng phải sống cho có hạnh phúc, rồi dần dần chuyển sang biện luận về hạnh phúc. Tuy nhiên sự khác biệt quan điểm giữa hai thày trò vẫn khá rõ rệt.
Bằng một cách tiếp cận vấn đề rất độc đáo vào thời đại của ông và cả nhiều thế kỷ sau đó, Aristotle đã không lý luận một cách tự biện (speculative) và thuần lý như Plato và tất cả các triết gia cổ Hy Lạp mà đã rút kết luận từ những quan sát thực nghiệm trong đời sống hàng ngày. Ông nhận thấy rằng mọi người đều mưu tìm hạnh phúc và như thế vấn đề nền tảng là sống thế nào để có hạnh phúc trong khi vẫn cố gắng tôn trọng các giá trị đạo đức. Trong khi đưa ra thuyết trung dung ông cũng gián tiếp phản bác quan điểm của thày mình và cho rằng không phải ai biết phân biệt đúng sai cũng tự nhiên làm điều đúng; không thiếu những người biết việc làm của mình là sai mà vẫn cứ làm, bản chất con người là thế. Tinh thần bao dung –và đa nguyên- của Aristotle thể hiện rõ ràng khi ông cho rằng không phải chỉ có một cách sống đúng; điều gì đúng cho một người chưa chắc đã đúng cho một người khác; đúng hay sai cũng tùy quan điểm cá nhân của mỗi người; không thể chỉ thuần túy dựa trên lý luận để quyết định lối sống phải có cho mọi người. Điểm nổi bật nhất của Aristotle là ông cho rằng mỗi người có một mức trung dung tối ưu riêng và chỉ có thể dò dẫm, rút kinh nghiệm, sửa sai và cải tiến. Aristotle còn giáng cho sư phụ mình một đòn ơn huệ khi ông nói rằng xét cho cùng phần lớn các giá trị đạo đức cũng chỉ là những giá trị trung gian. Dũng cảm là trung gian giữa hèn nhát và liều lĩnh, hãnh diện là trung gian giữa huênh hoang và hèn hạ v.v.
Những người phản bác Plato (và bênh Aristotle) còn đưa ra nhiều lập luận khác mà lập luận có trọng lượng nhất là trong chiều sâu Plato đã phủ nhận đạo đức đối với tuyệt đại đa số. Chỉ một thiểu số rất nhỏ có tư chất và điều kiện để trở thành những con người tuyệt hảo như Plato đòi hỏi, những người khác chỉ vâng phục, như vậy họ không tự nguyện, mà đã không tự nguyện thì không thể nói tới trách nhiệm và đạo đức. Nói chung trường phái Aristotle là trường phái tương đối, chủ quan và thực nghiệm trong khi Plato tuyệt đối, khách quan và lý thuyết. Tuyệt đối vì Plato cho rằng chỉ có một cách sống đúng cho tất cả mọi người; khách quan vì theo ông một hành động đúng hay sai là tự nó đúng hay sai chứ không phải tùy theo cách nhìn của mỗi người; lý thuyết vì ông quả quyết rằng những tiêu chuẩn đạo đức không đến từ kinh nghiệm mà có sẵn. Plato còn cho rằng cái đúng cao hơn cả thượng đế và thượng đế cũng chỉ đáng thờ nếu đúng.
Tội ác là con đẻ của ngu dốt
Tuy rất hâm mộ Aristotle và trường phái của ông nhưng càng ngày tôi càng ngả về Plato. Và một cách ngộ nghĩnh tôi ngả về phía Plato vì lý do thực nghiệm. Chính kinh nghiệm chứ không phải lý luận đã đã khiến tôi nhận định rằng tội lỗi và sự gian ác phần lớn là hậu quả của sự ngu dốt.
Nhận xét rõ nét nhất là những tay độc tài hung bạo đều vô học hay ít học, dù là Hitler, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, gia đình họ Kim ở Cao Ly, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Lê Đức Anh, Đỗ Mười v.v. Nếu hiểu biết có thể họ đã không làm những gì họ đã làm.
Trong trường hợp Việt Nam, nếu có chút kiến thức thì vào năm 1920, Hồ Chí Minh đã không say sưa tới mê sảng (theo chính lời ông kể lại) khi gặp chủ nghĩa cộng sản. Ông đã phải biết rằng chủ nghĩa này đã bị chính những người ủng hộ nó mạnh mẽ nhất lúc ban đầu -Đảng Dân Chủ Xã Hội Đức- vất bỏ từ gần một nửa thế kỷ rồi. Ít nhất ông cũng phải thận trọng chứ không thể mê cuồng đến thế. Chính sự mê muội này đã đưa Việt Nam vào thảm kịch. Những sai lầm và tội ác sau đó –tàn sát các đảng phái quốc gia, cải cách ruộng đất, nội chiến- chỉ là hậu quả của sự mê muội lúc ban đầu.
Nếu Lê Duẩn và Lê Đức Thọ biết rằng chủ nghĩa Mac-Lênin đã bị vất bỏ từ 100 năm trước (Đại hội Gotha 1875) và sắp bị lên án như một tội ác thì họ đã không huênh hoang gào thét "Chủ nghĩa Mác-Lênin bách chiến bách thắng muôn năm!" sau ngày 30-4-1975 rồi thi hành chính sách bỏ tù và hạ nhục đối với miền Nam. Họ đã thực hiện hòa giải dân tộc và đi vào lịch sử một cách vinh quang thay vì làm như họ đã làm và mang tiếng ngu muôn đời.
Nếu Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đỗ Mười hiểu rằng dân chủ là tương lai tất yếu và họ có thể chuyển hóa về dân chủ một cách an toàn (nên nhớ Nguyễn Văn Linh đã rất được hoan nghênh lúc ban đầu khi người ta tưởng ông ta thực sự muốn thay đổi) thì họ đã không hoảng hốt đi quỵ lụy để xin đầu hàng Trung Quốc. Nếu họ biết rằng chính chế độ Trung Quốc cũng sẽ không thể trụ được v.v… Tất cả đã bắt nguồn từ sự ngu dốt.
Đọc đến đây chắc nhiều vị đã nổi giận và muốn thét lên: "Ngụy biện! Chúng nó đâu có ngu, chúng nó gian ác!". Xin quí vị bình tĩnh. Tôi không phủ nhận là họ đã rất gian ác, biết mình rất sai phạm – còn tội nào lớn hơn tội gây nội chiến làm chết sáu triệu đồng bào, dâng chủ quyền cho ngoại bang?- mà vẫn làm. Chắc chắn những người lãnh đạo cộng sản trong lúc này cũng phải biết rằng tham nhũng, vơ vét, cướp đất của dân, quỵ lụy trước Bắc Kinh là nhơ nhớp nhưng vẫn làm vì gian tham. Họ biết nhiều lắm. Nhưng những "kiến thức" của họ chỉ đại loại như kiểu Lê Duẩn biết ba dòng thác cách mạng. Hay như Lê Đức Anh biết:"Mỹ âm mưu tiêu diệt ta, muốn chống lại Mỹ phải có đồng minh, đồng minh là Trung Quốc" (Hồi Ức Trần Quang Cơ). Đặc tính của những người ít học là họ thường nghĩ là mình đã biết hết rồi và phải nhẩy chồm tới kết luận vì không chịu đựng nổi sự đau nhức của lý luận. Chính sự gian tham của các quan chức hiện nay xét cho cùng cũng chỉ là sản phẩm của sự ngu muội. Họ đã không biết -như cả Plato lẫn Aristotle- thế nào là một cuộc sống xứng đáng nên đã tưởng vũng bùn nhơ của giành giật, cướp bóc, hung bạo là hạnh phúc, cao cả, vinh quang. Như thơ Nguyễn Chí Thiện:
Những đứa con của ngừng đọng tối tăm
Chúng sinh ra từ tăm tối nhiều năm
Nên chúng tưởng đêm đen là ánh sáng.
Plato có lý và Aristotle đã sai khi biện luận quá xa. Những mệnh lệnh nền tảng của đạo đức, hay những giá trị đạo đức "cấp một", những giá trị phải có,như không nói dối, không trộm cướp, không bội ước v.v. đều là những giá trị tuyệt đối chứ không có trung gian. Người ta giữ hoặc không giữ lời hứa, ăn cắp hay không ăn cắp, chứ không giữ lời hứa 50%, ăn cắp 30% v.v. Ngay cả những giá trị đạo đức "cấp hai", những giá trị nên có, như dũng cảm, tự hào, chuyên cần v.v. cũng không phải là những trung gian. Hèn nhát và liều lĩnh không phải là những thái cực của sự dũng cảm mà chỉ là hai hậu quả của sự vắng mặt của dũng cảm; cũng thế tự hào không phải là trung gian giữa vênh váo và cúi rạp, tự hào là tự hào.
Tất cả chỉ vì hèn?
Nhưng tại sao những người không có tài cũng chẳng có tâm như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn v.v. lại đã có thể lôi kéo cả một dân tộc vào một cuộc nội chiến ba mươi năm và thành công? Nếu Mặt Thật của Bùi Tín và Đèn Cù của Trần Đĩnh ra đời vào thập niên 1950 thay vì 1992 và 2014 thì lịch sử Việt Nam có thể đã khác và hàng triệu người đã không thiệt mạng. Tại sao sự thật lại chỉ được phơi bày muộn màng như thế?
Nghiêm trọng hơn, tại sao từ sau ngày 30/4/1975 đảng cộng sản dù đã thất bại thê thảm trên tất cả mọi phương diện và trong tất cả mọi địa hạt, đã khiến nước ta mất chủ quyền, mất đất, mất đảo, mất biển, tụt hậu một thế kỷ so với thế giới lại có thể vẫn đứng vững và hơn thế nữa vẫn chưa có đối thủ nào đáng kể trước mặt?
Cô Nguyễn Thị Từ Huy hình như tin rằng mình đã tìm ra câu trả lời (1). Nhân nhìn tấm hình ba phụ nữ kéo bừa cô nổi đóa mạt sát bọn đàn ông con trai như sau:
 
"Cá nhân tôi, từ những gì nhìn thấy và biết được, tôi cho rằng sở dĩ có tình trạng phụ nữ phải kéo cày như thế này, sở dĩ có sự suy thoái toàn diện của xã hội hiện nay, có sự mất độc lập quốc gia hiện nay là vì đa số đàn ông các anh hèn và quá hèn. Không phải các anh không biết, không phải các anh không thấy. Các anh thấy hết, biết hết, nhưng nhắm mắt làm ngơ, lấy im lặng và nhẫn nhục làm mục đích tồn tại. 
Tôi muốn hỏi tất cả đàn ông các anh, những người đàn ông của chúng tôi, câu này:
"Bao giờ các anh sẽ thôi tán phét trong các quán nhậu? Bao giờ các anh quyết định thôi sống hèn?""
Rõ ràng giải đáp của cô Từ Huy là: "Đàn ông Việt Nam hèn".
(TS Trần Thu Dung đòi cho phụ nữ Việt Nam quyền được chia sẻ cái hèn với đàn ông)
Ngay sau đó cô tiến sĩ Trần Thu Dung nhập cuộc sửa lưng cô Từ Huy (2). Theo cô Thu Dung đàn ông Việt Nam kéo cày được – cô cũng trưng tấm ảnh một chàng thanh niên đang kéo cày - thì đàn bà Việt Nam cũng kéo cày được; cái nhục không phải là phụ nữ Việt Nam kéo cày mà là người Việt Nam kéo cày thay trâu trong thế kỷ 21, không phải chỉ có đàn ông con trai Việt Nam hèn mà đàn bà con gái Việt Nam cũng hèn. Nói tóm lại là cả dân tộc Việt Nam hèn. Thực ra cô Thu Dung cũng đồng ý với cô Từ Huy về nguyên nhân của thảm kịch Việt Nam, chỉ phản đối chính sách phân biệt đối xử của cô Từ Huy và đòi cho phụ nữ Việt Nam quyền được chia sẻ cái hèn với đàn ông.
Nhưng đâu là cội nguồn của cái hèn?
Tôi không muốn can thiệp vào cuộc tranh luận giữa hai nữ trí thức Hà Nội đang trong cơn indignation vertueuse (phẫn nộ vì lý do đạo đức). Tuy vậy tôi phải nhận xét là cả cô Từ Huy lẫn cô Thu Dung đều sai. Các cô ấy, rõ nét nhất là cô Từ Huy, thuộc trường phái Aristotle và chống Plato. Cũng như Aristotle, các cô ấy cho rằng người ta có thể biết mình hèn mà vẫn cứ hèn, người ta làm điều sai không phải vì không biết mình sai (Các anh thấy hết, biết hết, nhưng nhắm mắt làm ngơ, lấy im lặng và nhẫn nhục làm mục đích tồn tại). Các cô ấy xổ toẹt thần tượng Plato của tôi.
Lỗi tại Aristotle. Chính cái thuyết trung dung của ông đã làm hoại loạn tất cả. Aristotle sai. Như đại đa số trí thức Việt Nam. Họ theo thuyết trung dung, nghĩa là lương thiện theo tình huống, và trên thực tế họ đã sống rất lương thiện theo tiêu chuẩn của Aristotle. Họ lương thiện trong 99% thời gian, nghĩa là trong lúc bình thường không cần chứng tỏ sự lương thiện, chỉ lưu manh 1% thời gian, vào lúc phải lương thiện. Họ dũng cảm 99% thời gian, những lúc không cần dũng cảm, chỉ hèn 1% thời gian, vào lúc phải dũng cảm.
Cái sai của Aristotle, theo tôi, là đã lẫn lộn triết với chính trị. Triết là cố gắng tìm chân lý chân chính, tuyệt đối và cao vợi, ngay cả nếu không với tới được. Triết không thỏa hiệp. Thỏa hiệp với thực tại là công việc của chính trị và hành động. Nhưng ngay cả trong chính trị và hành động người hiểu biết cũng thỏa hiệp một cách thông minh, thỏa hiệp ở mức tối thiểu cần thiết và được phép, thỏa hiệp mà không đánh mất mình chứ không thỏa hiệp một cách phản bội. Tôi vẫn tin cái xấu chủ yếu là hậu quả của ngu dốt. Tôi vẫn tán thành Plato.
Hai cô Từ Huy và Thu Dung đã nhìn thấy hiện tượng nhưng chưa nhìn thấy nguyên nhân. Sự dũng cảm không phải là một giá trị đao đức cấp một, nghĩa là tự nhiên và phải có sẵn, mà chỉ là một giá trị cấp hai, nghĩa là có thể do một điều kiện nào đó mà có hay không có. Do đó muốn trị bệnh hèn phải trị tận gốc. Mắng nhiếc không đủ.
Vậy cái gốc là gì? Xin trả lời một cách thật cụ thể, ngắn gọn và dứt khoát: cái gốc của hèn là do thiếu tổ chức. Hai cô có thể truy cập tất cả mọi khảo cứu về tâm lý xã hội. Tất cả đều khẳng định tổ chức khiến con người trở thành dũng cảm và cho phép con người hành động dũng cảm. Thí dụ trong một bệnh viện, trước một trường hợp bệnh nhân cần giải phẫu khẩn cấp nếu không chắc chắn sẽ chết trong một tương lai gần, nhưng nếu mổ thì cũng có một xác xuất khá lớn là bệnh nhân sẽ chết ngay trên bàn giải phẫu. Một bác sĩ thường không dám lấy quyết định nhưng một hội đồng y sĩ chắc chắn sẽ không lưỡng lự. Hợp quần không chỉ gây sức mạnh mà còn tạo điều kiện để con người trở thành dũng cảm, nghĩa là hết hèn. Người Việt Nam thường không biết như thế, và họ hèn vì không biết lý do khiến mình hèn.
Một người cô đơn không chỉ tự nhiên hèn mà còn nên hèn. Nếu cô Từ Huy không hèn thì cô làm được gì? Cô sẽ tháo dép, dơ cao, xông vào trụ sở trung ương đảng cộng sản? Bảo đảm là cô sẽ bị chặn bắt ngay trước khi có thể tạt dép vào mặt một cấp lãnh đạo nào, bị giam và sau đó ra tòa lãnh án tù về tội "âm mưu lật đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa" theo điều 79 BLHS. Nếu cô nuốt giận ngồi nhà gõ sự phẫn nộ của mình trên bàn phím thì cũng chưa chắc đã an toàn. Cô rất có thể cũng sẽ bị bắt và phạt án tù về tội "lạm dụng các quyền tự do dân chủ" theo điều 258, như Nguyễn Quang Lập, Hồng Lê Thọ và nhiều blogger khác.
Muốn dũng cảm thì phải có tổ chức, không có tổ chức thì chỉ có thể hèn hoặc liều lĩnh. Người Việt Nam vẫn không hiểu như vậy. Và họ cũng không hiểu nhiều điều rất cơ bản khác.
Chính trị và đấu tranh chính trị
Trước hết họ không hiểu chính trị là gì. Trong cả ngàn năm chính trị của nước ta chỉ là một trò chơi danh vọng, và danh vọng được ban phát theo bằng cấp hoặc ơn huệ chứ không phải theo khả năng và sự hiểu biết. Những kẻ sĩ đậu những khóa thi cử vớ vẩn về Tứ Thư Ngũ Kinh chẳng liên hệ gì tới đời sống xã hội được bổ nhiệm làm tri phủ, tri huyện để "trị dân", dù hiểu biết về xã hội của họ còn thấp hơn cả người dân. Kẻ sĩ là một lớp người mà lý tưởng là được làm dụng cụ cho một bạo quyền để đàn áp quần chúng. Trong suốt dòng lịch sử chính trị chỉ là đàn áp và kẻ sĩ là những cây gậy để các vua chúa đánh đập dân chúng. Kẻ đánh biết mình đang đánh và kẻ bị đánh biết đau và thấm thía sự tàn bạo, nhưng cây gậy thì không biết suy nghĩ. Cái tâm lý dụng cụ đó vẫn còn để lại một di sản văn hóa nặng nề khiến trí thức Việt Nam đã không biết gì về chính trị lại còn tưởng là mình đã biết hết rồi và không chịu học để biết. Theo họ chính trị không cần học, ai có bằng cấp hay địa vị xã hội – dù chỉ là một bằng cấp chuyên môn hay một chức vụ hữu danh vô thực - là mặc nhiên thấy mình có đủ tư cách để nói về chính trị và làm chính trị.
Tôi đã nghe rất nhiều trí thức khoa bảng mặt mũi sáng sủa nói một cách tự nhiên "tôi không thích chính trị". Nhưng chính trị là gì? Chữ "chính trị" không có trong ngôn ngữ Việt Nam và Trung Quốc trước khi tiếp xúc với phương Tây. Nó được đặt ra để dịch chữ "politics" đã có từ thời cổ Hy Lạp. Nhưng đó là cách dịch phiến diện, ẩu tả. Politics có nghĩa là việc của thành phố, hay "việc chung", bởi vì vào thời đó mỗi thành phố là một nhà nước. Nếu khi mới tiếp nhận khái niệm chính trị người ta dịch politics là "việc chung" hay "việc nước" thì các trí thức khoa bảng sẽ khó có thể nói "tôi không thích việc chung" hay "tôi không thích việc nước" mà không thấy ngượng, hoặc ít ra không dám nói một cách hãnh diện như thế.
Một số trí thức, trong đó có cả những người tự cho là hiểu biết về chính trị, còn nói một cách chắc nịch: "Chính trị là thủ đoạn, là dơ bẩn". Họ dốt đặc mà không biết mình dốt. Mới đây ông tổng thống Pháp bị tai tiếng nhiều và uy tín xuống tới sát số không chỉ vì dùng xe máy lén lút đi ăn vụng với một cô bồ nhí. Một chuyện như vậy nếu xảy ra trong giới doanh nhân, hay thể thao, hay văn nghệ sĩ, hay ngay cả trong giới giáo chức, thì sẽ chỉ là một chuyện cười và François Hollande không chừng còn được cảm tình. Nhưng dư luận đã tức giận, và ông Hollande bị mất thể diện, vì nó đã xảy ra trong môi trường chính trị, một môi trường mà đạo đức là bắt buộc. Một cách giản dị chính trị là đạo đức ứng dụng, là sự thể hiện các giá trị đạo đức trong xã hội. Đạo đức và chính trị nhắm trả lời cùng một câu hỏi phải sống và hành động như thế nào. Chỉ khác nhau ở qui mô, đạo đức tìm câu trả lời ở qui mô cá nhân trong khi chính trị tìm giải đáp ở qui mô xã hội. Cốt lõi của luật pháp là thể hiện các giá trị đạo đức trong xã hội. Vì thế mà Plato, cũng vẫn Plato, đã nói một câu để đời: "Luật vô đạo không phải là luật". Sở dĩ môi trường chính trị thường phơi bày những sự gian trá bởi vì nó không dung túng sự gian trá. Một cọng rác trong một căn nhà sạch dễ thấy hơn là trong một căn nhà đầy rác. Quan điểm "chính trị là dơ bẩn" là quan điểm của những người không hiểu chính trị và đạo đức. Một cách cụ thể tôi cũng đã quan sát và nhận thấy rằng những người nói như vậy thường chỉ có một nhân cách thấp hoặc trung bình.
Động trời hơn nữa là có những người tự nhận là đấu tranh cho dân chủ nhưng lại tuyên bố một cách hãnh diện là không tham gia một tổ chức nào cả. Nhưng đấu tranh chính trị có bao giờ là đấu tranh cá nhân đâu, nó bao giờ cũng là đấu tranh có tổ chức. Những người nói như vậy chẳng thà đừng đấu tranh. Họ phá đám hơn là đóng góp. Muốn đóng góp cho cuộc vận động dân chủ chỉ bằng hoạt động cá nhân thì phải là những người thật thông thái hoặc những nhà tư tưởng rất lớn có khả năng soi sáng cho cuộc đấu tranh, nhưng những người như vậy lại không nói có thể đấu tranh mà không cần tổ chức.
Xét cho cùng, chúng ta đã là chúng ta hiện nay - tụt hậu bi đát so với thế giới, con người vẫn chưa được nhìn nhận những quyền con người cơ bản nhất, phụ nữ phải kéo cày v.v .- cũng chỉ vì sự u mê. Đất nước ta hình như có ba loại người chính: những kẻ gian ác, những người không dám chống lại và những người không biết cách chống lại. Giải pháp là những người dám chống lại phải học hỏi để biết cách chống lại, nghĩa là đấu tranh có tổ chức. Họ sẽ dũng cảm thay vì chỉ liều lĩnh, và họ sẽ đem sự dũng cảm đến với những người hiện nay chưa dám chống lại.
Lời cuối
Tôi rất thông cảm và đồng tình với sự phẫn nộ đạo đức, cette indignation vertueuse, của hai cô Từ Huy và Thu Dung. Chỉ mong các cô hiểu rằng vấn đề không phải là hèn hay không hèn mà là có hay không có tổ chức. Vậy thì thay vì phản bác nhau hai cô nên kết hợp với nhau, rủ luôn cô Phạm Thị Hoài, cô Võ Thị Hảo và nhiều cô khác, khởi xướng một đảng diệt hèn cứu nước. Cương lĩnh của đảng nên ghi rõ là các đảng viên không chấp nhận uống café với những ai nói "không làm chính trị" hoặc "chính trị là dơ bẩn", nhất là những anh tuyên bố một cách vô tư rằng mình đấu tranh cho dân chủ nhưng "không tham gia một tổ chức nào cả". Không phải vì khinh bỉ họ - đề nghị các cô tôn trọng nhân quyền - mà để phản đối những sai lầm lỗ mãng đã kéo dài quá lâu, và gián tiếp đồng lõa với bạo quyền.
Nguyễn Gia Kiểng
(12/2014)

Thanh tra doanh nghiệp của Bộ Quốc phòng VN

Việt Nam Thời Báo (IJAVN) tại Việt Nam Thời Báo - The Vietnam Times - Hội nhà báo độc lập Việt Nam - 33 phút trước
*Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Hữu Đức nói đây là dịp để Bộ "nhìn lại quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp từ năm 2008 đến nay".* *Thanh tra chính phủ Việt Nam thông báo sẽ tiến hành kiểm tra quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa và thoái vốn các doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng.* Thông cáo ngày 4/9 trên trang web của cơ quan này cho biết đoàn thanh tra sẽ bao gồm 12 thành viên, do ông Đào Trung Kiên, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh tra Khối Nội chính và Kinh tế tổng hợp làm trưởng đoàn. Nhiệm vụ của tổ công tác là "thanh tra việc chấp hành chính sách pháp luật, nhiệm vụ trong công tác tái cơ cấu... thêm » 
................................................ 

Chuyên gia: Cuộc duyệt binh của TQ là 'quầy hàng' kỹ thuật ăn cắp

VietnameseWeb@voanews.com (Saibal Dasgupta) tại VOA - 48 phút trước
Cuộc duyệt binh ồ ạt ở Bắc Kinh trong tuần này phô trương các loại vũ khí mới nhất của TQ, nhưng các chuyên gia nói nó cho thấy đặc điểm nổi tiếng của TQ là ăn cắp kỹ thuật
...................................

 
VNTB - Tiếp tục kêu gọi: Cải cách thể chế, đổi mới hướng đến những vấn đề ngoài kinh tế
Việt Nam Thời Báo (IJAVN) tại Việt Nam Thời Báo - The Vietnam Times - Hội nhà báo độc lập Việt Nam - 1 giờ trước
Đinh Liên (VNTB) Nối tiếp tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói thẳng sự thật Diễn đàn kinh tế mùa xuân (và mùa thu) 2015, Diễn đàn khoa học Kinh tế Việt Nam 2016 - 2020 vào ngày 4/9 đã tiếp tục đưa ra những nhận định rõ ràng hơn về hướng đi, bước hội nhập của nước nhà để thoát khỏi một nền kinh tế "đẳng cấp thấp" như Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam, Trần Đinh Thiên từng nhận định trước đó. Đổi mới hướng đến vấn đề ngoài kinh tế, tức là cải cách - đổi mới thể chế, một trong những yếu tố gốc làm cản trở sự vận động bình thường của nền kinh tế Việt Nam, chính thể chế đã khiến vấn ... thêm » 
............................................................. 

Thủ tướng 'xử' đại tướng qua bàn tay thanh tra chính phủ

noreply@blogger.com (Danlambao) tại Dân Làm Báo - 1 giờ trước
*Bạn đọc Danlambao* - Thanh tra chính phủ - một cơ quan chuyên ‘chặt chém’ số 1 của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa loan báo quyết định thanh tra tất cả các doanh nghiệp thuộc bộ quốc phòng. Thời gian thanh tra được nói sẽ tiến hành trong 50 ngày làm việc, chủ yếu liên quan đến các nội dung như ‘chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu, cổ phần hoá và thoái vốn’ các doanh nghiệp quân đội. Trưởng đoàn thanh tra sẽ là ông Đào Trung Kiên, phó vụ trưởng vụ II. Tổ giám sát hoạt động của đoàn thanh tra sẽ do ông Nguyễn Mạnh Hà làm tổ trưởng. Trong quãng thời gian ... thêm »

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2015

Xóa tên trong kỷ yếu vì 'lệnh miệng'?

Việt Nam Thời Báo (IJAVN) tại Việt Nam Thời Báo - The Vietnam Times - Hội nhà báo độc lập Việt Nam - 3 giờ trước
Image copyrightFacebookNguyenDongThucImage captionTrên Facebook, nhà văn Nguyễn Đông Thức (trái) nói việc báo Tuổi Trẻ gạch tên Đỗ Trung Quân (phải) trong kỷ yếu là 'nhỏ mọn, không đàng hoàng' *Đang có tranh cãi quanh việc một tờ báo lớn tại Việt Nam, Tuổi Trẻ, không đưa nhà thơ Đỗ Trung Quân, từng làm ở báo, vào kỷ yếu 40 năm thành lập.* Câu chuyện ban đầu được nhà báo, nhà văn Nguyễn Đông Thức viết trên Facebook hôm 2/9: “Báo Tuổi Trẻ có mời tôi viết một bài trong cuốn ‘Chuyện nghề - Chuyện người’, nhân kỷ niệm 40 năm thành lập. Trong phần liệt kê các tên tuổi văn chương sau 1975 xuấ... thêm »

Việt nam: 70 năm vẫn lạc đường và đâu là lối thoát?

Kami tại rfavietnam - 3 giờ trước
Việt nam vừa tổ chức lễ kỷ niệm 70 năm giành được độc lập, với màn diễu bình tốn kém là điều khiến cho tầng lớp những người có hiểu biết tỏ ra thất vọng. Vì theo họ, màn "diễn binh" hoành tráng đó chỉ nhằm mục đích che đậy sự thất bại trong việc quản trị đất nước của ban lãnh đạo Đảng CSVN trong suốt 70 năm qua mà thôi. read more 
----------------------------------------------------------------- 

Chuyện gì xảy ra khi Việt Nam bị khủng hoảng kinh tế?!

VietTuSaiGon tại rfavietnam - 4 giờ trước
Câu phát biểu của ông Phan Trung Lý – Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật nhà nước Cộng sản Việt Nam trong cuộc họp quốc hội gần đây khiến tôi giật mình: “Nên kêu gọi và huy động tiền từ nhân dân để trả nợ công…”. read more 
---------------------------------------------------------- 

Từ Plato, Aristotle đến Từ Huy, Thu Dung (Nguyễn Gia Kiểng)

Việt Nam tại Thông luận - 4 giờ trước
* "...**Hợp quần không chỉ gây sức mạnh mà còn tạo điều kiện để con người trở thành dũng cảm, nghĩa là hết hèn. Người Việt Nam thường không biết như thế, và họ hèn vì không biết lý do khiến mình hèn...."* *Plato (áo đỏ) và Aristotle**Từ Plato, Aristotle đến Từ Huy, Thu Dung (Nguyễn Gia Kiểng)* Trong một thời gian dài tôi không hiểu tại sao tôi rất chán môn đạo đức học (ethics), dù đó là một phần quan trọng của triết và gắn bó chặt chẽ với một môn mà tôi thích: chính trị. Biết thế nhưng đã bao nhiêu lần tôi muốn đọc đạo đức mà không được. Cứ đọc được vài giờ là chán tới cổ. Có thể ... thêm » 
----------------------------------------------------------- 

Anh đã quên mùa thu.

Thanhhieu Hieubui tại Yêu quê hương Việt Nam, thích uống trà mạn - 5 giờ trước
Bây giờ là mùa thu Trời vắng khói sương mù Hàng cây khô sầu úa Hiu hắt đứng trong mưa http://nhacso.net/nghe-nhac/anh-da-quen-mua-thu.WlpXVUJW.html Tôi cố nhớ mùa thu Hà Nội trước khi tôi đi đẹp và thơ mộng thế nào, mà không nhớ được nhiều lắm. Mặc dù tôi mới sang mùa thu thứ ba tôi vắng xa Hà Nội. Cố gắng lắm chỉ thấy một chút heo may, nắng vàng, gánh cốm, tiếng rao của gánh hàng rươi và những chiếc bánh trung thu trong tủ kính bên đường. Nhưng tất cả cái đó biến nhanh vào hình ảnh những cái nóng bức, ngột ngạt, đông đúc và ồn ào còi xe, hỗn loạn của Hà Nội. Bóng dáng công an, dân ... thêm »

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2015

Lễ Quốc Khánh Việt Nam trong mắt báo chí nước ngoài

VOA - 23 phút trước
Việt Nam tưng bừng đánh dấu Lễ Quốc Khánh lần thứ 70, với cuộc duyệt binh hoành tráng, và cờ hoa rợp trời ở Quảng trường Ba Đình

Tháng Tám 1945, Cách mạng hay Cách … Cái mạng ? (Kính Hòa)

Việt Hoàng tại Thông luận - 1 giờ trước
*Chúng ta không nên quy kết buộc tội lẫn nhau. Cách Mạng Tháng 8 đã như thế không phải là do trách nhiệm riêng của Đảng Cộng Sản mà là trách nhiệm của cả một thế hệ trí thức Việt Nam…* Tháng Tám 1945, Cách mạng hay Cách … Cái mạng ? (Kính Hòa) *Cách mạng* Theo lịch sử chính thống của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, cách đây 70 năm, vào ngày 19/8, tại Hà Nội Mặt trận Việt minh do đảng cộng sản lãnh đạo giành lấy chính quyền từ tay thực dân Pháp và phát xít Nhật. Ngày 25/8 một biến cố tương tự xảy ra ở Sài gòn. Và cuối cùng là ngày 2/9/1945, ông Hồ Chí Minh, người... thêm »

Việt Nam tụt hậu bao xa so với láng giềng ? (Tư Hoàng)

Việt Hoàng tại Thông luận - 1 giờ trước
…*GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 đạt 2.052 USD, gấp 21 lần năm 1990, nhưng chỉ tương đương mức GDP bình quân của Malaysia năm 1988, Thái Lan năm 1993, Indonesia năm 2008, Philippines năm 2010, và Hàn Quốc năm 1982...* Việt Nam tụt hậu bao xa so với láng giềng ? (Tư Hoàng) Một báo cáo tổng hợp của Tổng cục Thống kê đã phác thảo tình trạng lạc hậu, tụt hậu của Việt Nam so với hàng loạt các quốc gia trong khu vực. Theo đó, từ năm 2008 Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, nhưng khoảng cách về GDP bình quân đầu người so với các nước trong khu vực còn l... thêm »

Một cuộc chuyển hoá không thể được (TL 148) (Nguyễn Gia Kiểng)

“…Dân tộc Việt Nam chắc chắn là muốn dân chủ và cũng xứng đáng để có dân chủ không kém nhiều dân tộc khác, nhưng chính trị ở nước nào và thời nào cũng chỉ là quan tâm và hoạt động của thiểu số tích cực. Vào thời điểm này chưa thể nói chúng ta đã có một văn hoá dân chủ và một đội ngũ dân chủ mà đất nước đòi hỏi…”

Một cuộc chuyển hoá không thể được (TL 148) (Nguyễn Gia Kiểng)


Đây là lần thứ 26 người Việt Nam kỷ niệm biến cố 30-4-1975. Một sự tình cờ đã khiến nó đến khi đại hội 9 của đảng cộng sản vừa bế mạc, đánh dấu một giai đoạn mới không những với đảng cộng sản mà đối với cả đất nước. Vậy đây đúng là một dịp để tổng kết và suy nghĩ.

Nhưng trước hết là một vài suy tư nhân dịp lễ Phục Sinh.

Giê-Su ra đời được hai năm thì vua Herode từ trần. Các hoàng tử tranh quyền, nước Do Thái rối loạn và bị sáp nhập thành một tỉnh của đế quốc La Mã khi ông mới vừa 12 tuổi. Người Do Thái chờ đợi một vị cứu tinh, và nhiều thủ lãnh đã xuất hiện. Giê-Su là một trong những lãnh tụ này, và là lãnh tụ độc đáo nhất. Trong khi mọi người chỉ nhìn thấy giải pháp võ trang, Giê-Su đã nhận ra nguyên nhân đã khiến người Do Thái thất bại và mất nước là sự thua kém về tư tưởng và văn hoá. La Mã đã hơn hẳn Do Thái và mọi nước khác vào thời đó, bởi vì xã hội của họ tự do hơn, dân chủ hơn, có đối thoại, và nhất là có phân biệt giữa tôn giáo và chính trị. Giê-Su nhìn thấy sự vô vọng nguy hiểm của các chủ trương giải phóng võ trang. Ông cũng nhìn ra nguyên nhân chính khiến Do Thái không vươn lên được : đó là sự kỳ thị giai cấp, sự tôn thờ bạo lực, óc bất dung và nhất là sự lẫn lộn giữa tôn giáo và chính trị giam hãm xã hội trong cái khung cứng nhắc của kinh thánh khiến xã hội không tiến hoá được. Từ đó Giê-Su kêu gọi hòa giải và hòa hợp dân tộc, bao dung, bác ái, bất bạo động và nhất là phân biệt tôn giáo và chính trị.

Giê-Su có phải là hiện thân của Thiên Chúa hay không là câu hỏi mà mỗi người tự trả lời cho mình. Nhưng nếu chúng ta chỉ giới hạn dưới góc nhìn chính trị thì sự nghiệp của Giê-Su thật là oan trái : ông đã chinh phục được chính đế quốc La Mã, không những thế ông còn chinh phục được cả thế giới chung quanh ông và mở ra một nền văn minh lộng lẫy, nhưng riêng đồng bào Do Thái của ông mà ông muốn giải thoát lại bức tử ông. Giê-Su đã không thuyết phục được dân tộc ông cũng như không ai có thể là tiên tri tại quê hương mình vì ông đụng phải một bức tường văn hoá. Cuộc đời ông chứng tỏ thay đổi văn hoá là một điều cực kỳ khó khăn.

*

Năm 1883 nước ta bị người Pháp đô hộ sau một cuộc chinh phục dễ dàng trong đó triều đình nhà Nguyễn chỉ chống trả một cách yếu ớt. Nguyên nhân của thất bại là do văn hoá và tổ chức xã hội kém hẳn đối phương. Vua Tự Đức không phải là không nhìn thấy yêu cầu canh tân, nhưng ông bị vây bọc bởi cả một bức tường thủ cựu kiên cố của quần thần nên đã tiếp tục sa lầy và cuối cùng mất chủ quyền. Quán lực văn hoá lớn đến nỗi ngay cả quyền lực tuyệt đối của Tự Đức cũng không thể thay đổi cách suy nghĩ và hành động bằng mệnh lệnh.

Cuộc đô hộ của người Pháp hoàn toàn khác với những giai đoạn Bắc thuộc trước đây : kẻ thống trị khai thác tài nguyên của Việt Nam nhưng họ cũng đồng thời mở mang đất nước như chưa bao giờ thấy. Người Pháp vừa là kẻ thống trị vừa là người giải phóng, giúp Việt Nam vứt bỏ ách nô lệ văn hoá của Trung Quốc. Về mặt trí tuệ phải nói người Pháp đã đem đến cho chúng ta cả một bước nhảy vọt. Ngay cả ý thức về quốc gia như một thực thể của chung của mọi người cũng ra đời dưới thời Pháp thuộc, cũng những ý niệm về tự do, dân chủ, bình đẳng nam nữ, v.v... Về khoa học kỹ thuật thì phải nói chúng ta đã được người Pháp giáo dục từ số không. Nói chung, mặc dù cái nhục đô hộ, giai đoạn Pháp thuộc đã rất có lợi cho chúng ta. Nhưng người Việt càng tiến lên nhờ người Pháp thì cái nhục bị lệ thuộc Pháp lại càng đau nhức. Điều mà chúng ta cần trong giai đoạn này là những nhà tư tưởng tìm ra một cách nhìn và một cách sống cái nhục đó. Một đồng thuận dân tộc trên một cách ứng xử sáng suốt có thể đã giúp chúng ta lấy được quyền tự chủ sau một hai thế hệ. Nhưng chúng ta đã không có được những nhà tư tưởng đó. Phong Trào Đông Kinh Nghĩa Thục nhiều tình cảm tốt nhưng thiếu nền tảng lý luận. Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những học giả nhưng không phải là những nhà tư tưởng. Phan Châu Trinh đơn độc và chết quá sớm. Do sự thiếu định hướng đó, mặc dù cuộc sống tinh thần và vật chất đã được cải thiện rất nhiều, người Việt Nam, nhất là giới sĩ phu, chỉ cảm nhận sự kiện bị một nước có nền văn hoá khác hẳn đô hộ như một sự xúc phạm lớn. Đã có nhiều cuộc kh%ởi nghĩa nhưng vì thiếu hiểu biết và thiếu sáng kiến chúng đã chỉ loanh quanh trong chống đối võ trang để rồi bị đập tan. Kể cả đảng cộng sản. Và ngay cả trong giai đoạn thế chiến II khi tại Đông Dương chỉ còn lại một nắm nhỏ người Pháp đã thua trận và mất nước. Sau cùng quân Nhật, chứ không phải kháng chiến Việt Nam, đã lật đổ chính quyền thuộc địa Pháp.

Bế tắc của cố gắng giải phóng dân tộc cũng cùng một nguyên nhân như bế tắc của dân Do Thái vào thời Giê-Su. Văn hoá cũ đã đưa đến thua kém và thất bại, phải có một văn hoá mới để nhìn ra một phương thức đấu tranh mới. Nhưng vấn đề ngàn đời vẫn thế: thay đổi văn hoá là điều cực kỳ khó khăn.

*

Giai đoạn Pháp thuộc cũng là giai đoạn mà phong trào cộng sản bành trướng trên thế giới và lan tới Việt Nam. Chủ nghĩa cộng sản không mới. Nó nằm trong một luồng tư tưởng đã có từ rất lâu và thể hiện rất mạnh mẽ qua các bài giảng của Giê-Su. Nó cũng là một đề tài tranh luận sôi nổi trong thế kỷ 18 và 19 tại châu Âu sau cuộc cách mạng kỹ nghệ. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để xã hội ngày càng giàu mạnh lên và của cải làm ra được phân chia một cách công bằng. Karl Marx là một trong những người chủ trương dành hẳn ưu tiên cho công bằng xã hội. Marx không phải là một triết gia, cũng không phải là một nhà tư tưởng lớn. Ông là một học giả, một nhà văn và một nhà báo. Ông thu thập những ý kiến và khám phá của người khác rồi làm tổng hợp. Những tổng hợp của ông thường vội vã, thiếu chiều cao trí tuệ, nhưng ông diễn đạt một cách rất đặc sắc và hùng hồn. Những đóng góp thực sự của Marx như phân tích về giá trị thặng dư, dự báo sự sụp đổ chắc chắn của chủ nghĩa tư bản, v.v... đều sai một cách ngây ngô. Do tài diễn đạt, đặc biệt là cách trình bày mạch lạc của một người uyên bác, Marx được nhiều người ngưỡng mộ, và những gì ông viết ra có ảnh hưởng lớn. Những tác phẩm của Marx có thể đã chỉ là những tài liệu nghiên cứu nếu không có Lênin.

Lênin mới thực sự là cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản như đã được thực hiện tại nhiều quốc gia. Lênin đã nhận thấy ở những tác phẩm của Marx một số khẩu hiệu có tác dụng kích thích quần chúng nghèo khổ đồng thời một hệ thống tư tưởng sơ sài nhưng có vẻ hoàn chỉnh bao gồm cả triết học, sử quan, kinh tế, xã hội. Đó là một kiện hàng lý tưởng cho một người đang tìm kiếm một cơ sở lý luận để cướp chính quyền. Lênin đã dựa vào tư tưởng của Marx để phát minh ra cả một lý thuyết thực dụng để cướp và giữ chính quyền bằng bạo lực. Lênin đã viết và nói mỗi lúc một khác trên tất cả mọi vấn đề, nhưng ''tư tưởng Lênin'' có thể tóm tắt trong hai thành tố: 1/ lẫn lộn cứu cánh (thí dụ xây dựng một xã hội công b^ằng và phồn vinh) và phương tiện (thí dụ cuộc cách mạng vô sản), nâng phương tiện lên thành cứu cánh để biện minh cho những phương tiện khác; 2/ đồng hoá một khái niệm (thí dụ cách mạng) với một trong những biểu hiện của nó (thí dụ đảng cộng sản). Cả hai đều là cách lý luận bất lương. Được áp dụng một cách dây truyền, và hơn nữa lại phối hợp với nhau, lối lý luận này có thể dẫn đi rất xa khỏi cả điểm khởi hành lẫn mục tiêu ban đầu. Từ giấc mơ một thiên đường trên mặt mặt đất hoàn toàn tự do và thân ái, không còn bóc lột, hà hiếp và cũng không cần chính quyền, nó dẫn tới một nhà nước khắc nghiệt và nhiều lần hung bạo hơn những nhà nước tư bản mà Marx muốn xoá bỏ. Nó cũng đã dẫn hàng chục triệu người vô tội vào nhà tù hay ra pháp trường.

Lênin, Stalin và các lãnh tụ cộng sản khác thừa biết rằng thiên đường cộng sản mà Marx tưởng tượng chỉ là một ảo tưởng nhưng là một ảo tưởng có thể lợi dụng để cướp chính quyền. Một khi đã cướp được chính quyền các chế độ cộng sản cai trị thuần túy bằng bạo lực và khủng bố. Sử dụng một xác quyết sơ đẳng của Marx theo đó lịch sử nhân loại chỉ là đấu tranh giai cấp và đẩy tới tột đỉnh lô-gích khủng bố, chủ nghĩa cộng sản còn cho phép tiêu diệt không những các cá nhân mà toàn bộ những thành phần xã hội theo giai cấp, chủng tộc, tín ngưỡng. Về bản chất không có sự khác biệt giữa các chế độ nazi, phát xít và cộng sản. Tất cả đều là những phong trào cho mình quyền tiêu diệt những cá nhân không phải vì họ đã phạm một tội gì mà vì họ thuộc một thành phần bị chế độ coi là thù địch.

Các chế độ cộng sản còn cần một loại nạn nhân khác. Vì lấy một ảo tưởng làm cứu cánh, chúng luôn luôn cần chứng minh tại sao cứu cánh vẫn chưa thực hiện được và không những thế càng ngày càng xa vời thêm trong khi những hy sinh ngày càng nhiều. Phải có những thủ phạm, những kẻ phá hoại việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Và lần này các nạn nhân không nhất thiết phải là những kẻ thù giai cấp mà cũng có thể là những kẻ thất bại trong những tranh chấp nội bộ bị chọn làm dê tế thần trong những đợt thanh trừng.

Một đặc tính khác của phong trào cộng sản cần được lưu ý. Đó là nó hoàn toàn không dựa vào hậu thuẫn của quần chúng. Kỹ thuật của mọi đảng cộng sản là chỉ dựa vào một thiểu số có kỷ luật và đội ngũ vững chắc để khai thác một tình trạng khủng hoảng để cướp chính quyền và sau đó cai trị bằng bạo lực và sự nghèo khổ. Đi xa hơn các chế độ phát xít, các chế độ cộng sản còn sử dụng cả lương thực như một vũ khí khống chế xã hội.

Nhiều người cộng sản sẽ rất phiền lòng khi nghe nói rằng về bản chất phong trào cộng sản là một phong trào khủng bố và tội ác. Sự phiền lòng càng chân thực khi chính họ là những con người lương thiện. Nhưng sự thực là như thế. Có lẽ trước hết cần đồng ý trên định nghĩa của tội ác. Đó là việc cố ý sử dụng bạo lực để tiêu diệt, lưu đày hay ngược đãi những người vô tội vì quan điểm, tôn giáo, chủng tộc hay giai cấp của họ. Đây là định nghĩa chính thức của công pháp quốc tế về ''tội ác đối với loài người'' và cũng là điều mà mọi chế độ cộng sản đều làm. Cuốn Sách Đen Về Cộng Sản (Le Livre Noir du Communisme) không phải do một tổ chức chống cộng nào viết ra trong mục đích tuyên truyền, mà là công trình tập thể của một số đông đảo các nhà khảo cứu có uy tín, đa số đã từng ủng hộ phong trào cộng sản. Nó cho thấy phong trào cộng sản đã làm thiệt mạng trên 100 triệu người qua những quyết định độc ác có chủ ý và được thực hiện một cách lạnh lùng. Điều không thể chối cãi được là ở tất cả mọi quốc gia mà nó có cơ hội được thực hiện chủ nghĩa cộng sản đã chỉ đẻ ra những chế độ hung bạo và gian ác. Như vậy thì phải kết luận rằng chủ nghĩa cộng sản chất chứa tội ác và bạo lực ngay trong bản chất của nó (*).

Lênin đã thắng Kerensky và các đối thủ khác bởi vì xã hội Nga chưa bao giờ có một văn hoá chính trị nào khác ngoài bạo quyền và bạo lực. Những người dân chủ Nga đương thời với Lênin không thiếu nhưng họ đã thất bại bởi vì văn hoá chính trị của nước Nga chưa chín muồi cho dân chủ. Cùng một lý do đã khiến Mao Trạch Đông đánh bại Tưởng Giới Thạch tại Trung Quốc. Văn hoá nào chế độ đó. Một lần nữa chúng ta thấy trọng lượng và quán lực của văn hoá.

*

Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập như là một phân bộ của cộng sản thế giới. Cha đẻ của nó là Hồ Chí Minh đã được đào tạo tại Nga, trong lò Stalin. Nó có mọi đặc tính một đảng cộng sản.

Theo đúng kỹ thuật Lênin, nó không dựa trên quần chúng mà dựa trên một số nhỏ có đội ngũ và quyết tâm để chờ đợi khai thác một tình trạng khủng hoảng. Cơ hội đến với thế chiến II. Với một đội ngũ nhỏ không quá 2.000 nhưng có tổ chức và quyết tâm, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nắm được chính quyền vào một lúc mà chính quyền bỏ ngỏ : Nhật lật đổ chính quyền thuộc địa Pháp rồi thua trận và đầu hàng. Sau đó nó dùng bạo lực để tiêu diệt các đảng phái yêu nước khác.

Sau khi đã nắm được độc quyền đấu tranh giành độc lập, theo đúng bài bản của mọi đảng cộng sản, nó thực hiện khủng bố toàn diện và tối đa. Người ta sẽ không thể nào đánh giá đúng mức sự khủng bố trong cuộc chiến tranh chống Pháp. Bao nhiêu người đã bị giết oan trong thời gian này? Có những người đã bị giết chỉ vì họ có chút uy tín tại địa phương và cũng có rất nhiều người đã bị giết chỉ vì bị tình nghi là gián điệp dựa trên những chi tiết như đội mũ có ba màu hay trong người có mảnh gương. Thêm vào sự khủng bố theo chính sách còn có khủng bố vì ngu dốt. Thực là cả một giai đoạn kinh hoàng. Trong cuộc chiến tranh lần thứ hai, 1960-1975, khủng bố cũng vẫn là vũ khí chính của đảng cộng sản. Chính quyền Sài Gòn dù có phương tiện dồi dào hơn cũng không sao chống trả được một lực lượng cộng sản không bị vướng tay bởi bất cứ một qui luật nào.

Trong cả hai cuộc chiến này, đảng cộng sản cũng đã được một bối cảnh quốc tế thuận lợi. Văn hoá chính trị thế giới trong hơn ba thập niên từ sau thế chiến II là chống Mỹ và chống chủ nghĩa tư bản. Trong số các sinh viên chống sự can thiệp của Mỹ tại Việt Nam có cả một tổng thống tương lai của Hoa Kỳ. Cảm tình dành cho Đảng Cộng Sản Việt Nam lớn đến nỗi những tin tức về những vụ bắt cóc, ám sát, đặt mìn trong các thành phố và những hố chôn tập thể tại Huế không có một ảnh hưởng nào. Khủng bố và bạo lực không bị lên án vì được coi là những vũ khí cần thiết cho một cuộc cách mạng phải có. Chỉ từ thập niên 1980 thế giới mới tiến tới một văn hoá hòa bình, quay lưng lại với bạo lực và các tổ chức khủng bố không còn được ủng hộ. Một lần nữa chúng ta thấy văn hoá quyết định cách ứng xử tập thể và văn hoá không dễ thay đổi.

Khủng bố và tội ác đã là vũ khí lợi hại nhất của đảng cộng sản nhưng không phải là lý do duy nhất giúp họ chiến thắng. Các phong trào cộng sản ở châu Mỹ La-Tinh cũng quyết tâm và hung bạo không kém nhưng đã thất bại. Còn môt lý do quyết định khác, đó là đảng cộng sản đã được sự ủng hộ của chính nhân dân Việt Nam. Dĩ nhiên là có rất nhiều người Việt Nam thù ghét đảng cộng sản nhưng cũng có một số rất đông đảo ủng hộ họ rất tận tình. Những người này không phải không biết tới những tội ác của đảng cộng sản nhưng họ vẫn ủng hộ phe cộng sản bởi vì các chính quyền quốc gia dưới mắt họ chỉ là lai căng, vọng ngoại, công cụ của nước ngoài. Họ ủng hộ phe cộng sản nhân danh lập trường dân tộc.

Chủ nghĩa cộng sản không hoàn toàn là một ''chủ nghĩa ngoại lai'', như những người chống cộng lập luận, mà ở ngay trong lòng người Việt Nam, bởi vì không có một khác biệt căn bản nào giữa chủ nghĩa cộng sản và ý thức hệ Khổng Giáo mà người Việt tôn sùng trong hàng ngàn năm. Xét về bản chất thì cộng sản và Khổng Giáo chỉ là một, nếu nhìn kỹ hơn cộng sản là chủ nghĩa hay nhất có thể có nếu chỉ muốn cải tiến Khổng Giáo. Như vậy không có gì ngạc nhiên khi đảng cộng sản đã được một hậu thuẫn rộng lớn, vững chắc và bền bĩ trong dân chúng. Chính nhờ hậu thuẫn này mà dù gặp khó khăn tới đâu hay bị thất bại nặng nề tới đâu họ vẫn gượng dậy được. Văn hoá và tâm lý có sức mạnh ghê gớm của chúng và chúng cũng rất khó thay đổi. Đó là lý do khiến những tội ác kinh hoàng của người Thái đối với người Khmer, và ngược lại, vẫn không ngăn cản họ thấy gần gũi với nhau hơn là với người Việt.

Cần chấm dứt một huyền thoại đã kéo dài quá lâu. Đó là đảng cộng sản tuyên truyền giỏi và tổ chức giỏi. Hoàn toàn sai. Họ tuyên truyền rất vụng về và tổ chức một cách rất luộm thuộm. Sức mạnh đã đưa họ đến thắng lợi gồm ba yếu tố: 1/bản chất khủng bố và tội ác cho phép họ làm bất cứ gì để đạt mục đích mà không cần thắc mắc; 2/ họ có căn bản dân tộc bởi vì chủ nghĩa mà họ theo đuổi về bản chất phù hợp với văn hoá Khổng Giáo của xã hội Việt Nam; 3/ những người lãnh đạo cộng sản đều ít học cho nên rất quyết tâm, cuồng tín và kiên trì. Tất cả những lý do khác đều là phụ, những phân tích về quân sự lại càng không quan trọng.

Nhưng đó là đảng cộng sản nhìn từ bên ngoài. Một câu hỏi cần được đặt ra là bằng cách nào họ đã giữ được sự ổn vững trong nội bộ mặc dầu đã phạm rất nhiều tội ác đẫm máu và sai lầm nghiêm trọng? Lý do là vì ít nhất từ sau đại hội 3 năm 1960 đã có ''một đảng cầm quyền trong đảng'', thực hiện sự khủng bố ngay trong nội bộ đảng để duy trì kỷ luật. Đảng cầm quyền trong đảng này do Lê Đức Thọ cầm đầu. Từ 1960 trở đi tất cả mọi cấp lãnh đạo thực sự trong đảng đều thuộc phe này. Một đảng khủng bố không thể không thực hiện khủng bố ngay trong nội bộ.

Đảng cộng sản đã có được một bối cảnh quốc tế thuận lợi, đã được viện trợ một cách dồi dào từ cả Liên Xô lẫn Trung Quốc, họ cũng đã may mắn chỉ gặp những đối thủ rầt tầm thường trong phe quốc gia và những vụng về của người Mỹ, nhưng hai lý do chính khiến nó đã thành công là vì nó đã có hậu thuẫn quần chúng và vì nó là một đảng khủng bố và tội ác và dám đẩy đến cùng lô-gích khủng bố và tội ác đối với bên ngoài cũng như trong nội bộ đảng.

*

Nhưng từ ngày 30-4-1975 họ đã toàn thắng và qui được cả đất nước về một mối. Lô-gích tự nhiên lúc đó là phải hành xử như một đảng cộng sản cổ điển, và như họ đã làm tại miền Bắc trong hơn hai mươi năm, nghĩa là cai trị bằng kềm kẹp, khủng bố bằng bạo lực và bằng sự nghèo đói. Nhưng thế giới đã thay đổi, phong trào cộng sản thế giới đã rạn nứt. Đảng Cộng Sản Việt Nam dù muốn hay không cũng phải bắt đầu chuyển hoá.

Đại hội 4 cuối năm 1976 đánh dấu bước đầu của một cuộc chuyển hoá từ một đảng khủng bố và tội ác sang một đảng cầm quyền và quản trị. Từ đó mọi đại hội đảng đều là những đại hội chuyển hoá theo cùng chiều hướng bắt buộc này.

Đại hội 9 cũng không khác. Điều khác biệt là nó cũng là đại hội chuyển giao thế hệ. Những cấp lãnh đạo xuất thân từ chiến tranh và có công lao trong chiến tranh cuối cùng đã phải ra đi vì già yếu theo luật đào thải tự nhiên của tạo hoá.

Không nên để bị lung lạc bởi những lời tuyên bố lạc quan và tin tưởng sau đại hội 9. Một số quan sát viên quốc tế sẽ nhận xét rằng những cấp lãnh đạo mới trẻ hơn, cởi mở hơn và hiểu biết hơn và không giáo điều như những người tiền nhiệm. Tất cả những nhận xét này đều đúng nhưng cũng chỉ là những gì chúng ta đều đã thấy. Từ 1975 đến nay tất cả mọi đại hội đảng cộng sản đều đã có tiến bộ. Nhân sự luôn luôn trẻ hơn, cởi mở hơn và hiểu biết hơn nhưng điều đó vẫn không ngăn cản đảng cộng sản tiếp tục sa lầy và chế độ cộng sản tiếp tục suy thoái. Cố gắng chuyển hoá đã thất bại.

*

Nhưng tại sao cuộc chuyển hoá này lại thất bại ?

Đó là vì chuyển hoá từ một đảng khủng bố và tội ác sang một đảng cầm quyền và quản trị là một cuộc chuyển hoá cực kỳ khó khăn mà chưa một đảng cộng sản nào làm được. Cuộc chuyển hoá này đòi hỏi một thay đổi văn hoá. Phải thay văn hoá chiến tranh bằng văn hoá hòa bình, văn hoá căm thù bằng văn hoá anh em, văn hoá cướp bóc bằng văn hoá lương thiện, văn hoá khủng bố bằng văn hoá đối thoại và thoả hiệp, văn hoá phá hoại bằng văn hoá xây dựng. Và dĩ nhiên cũng cần thay những kiến thức cũ bằng những kiến thức mới. Đây là một cuộc cách mạng văn hoá to lớn và toàn diện, đòi hỏi những cấp lãnh đạo có văn hoá cao và tầm nhìn xa, những người mà đảng cộng sản hoàn toàn không có. Bộ máy khắc nghiệt của đảng đã loại bỏ khỏi vị trí lãnh đạo hầu hết những người lương thiện, có trí tuệ và nhân cách.

Mọi cuộc chuyển hoá văn hoá đều rất khó khăn, ngay cả nếu người ta ý thức được và thực hiện với tất cả quyết tâm. Nhưng mặt khác đảng cộng sản cũng không ý thức được tầm vóc và sự khó khăn của cuộc chuyển hoá này. Họ đã chỉ để cho thực tại xô đẩy và họ đã chỉ làm những thay đổi vụn vặt bất đắc dĩ khi không có chọn lựa nào khác. Những khuôn mặt lãnh đạo mới dù trẻ tuổi hơn cũng chỉ là những người già nua trong kiến thức, văn hoá và tâm lý. Điều duy nhất thực sự mới so với các đại hội trước là ''đảng Lê Đức Thọ'' đã chết già. Từ nay đảng cộng sản không còn dụng cụ để duy trì kỷ luật nội bộ nữa.

Thời gian sau cùng đã làm công việc của nó. Đảng cộng sản đã thay đổi, dù là một sự thay đổi không thành công. Tháng 4-1975 nó là một đảng khủng bố và tội ác xuất sắc, tháng 4-2001 nó là một đảng cầm quyền và quản trị tồi tệ. Không có gì đáng ngạc nhiên và cũng không thể khác. Các đảng cộng sản không được thành lập để quản lý tốt một đất nước và giành thắng lợi trong một cuộc bầu cử, chúng chỉ được thành lập để tạo khủng hoảng và lợi dụng khủng hoảng để cướp chính quyền. Đảng Cộng sản Việt Nam không khác, nó còn cộng sản hơn đa số các đảng cộng sản. Không những thế nó còn thiếu quyết tâm tự cải thiện. Cuối cùng thì tên tướng cướp dữ tợn vẫn chưa thành người lương thiện, hắn mới chỉ thành một tên du đãng. Đỡ hơn, nhưng chưa đủ. Đảng cộng sản không còn ám sát, bỏ tù hàng chục năm không cần xét xử nữa, nhưng nó vẫn tạm giam, quản chế, cắt điện thoại và dùng báo chí độc quyền để vu cáo và bôi nhọ. Và nó vẫn sợ đa nguyên đa đảng.

Giê-Su Ki-Tô cũng đã không thay đổi được văn hoá của dân tộc ông và đành chịu lấy tính mạng để trả giá cho sự sáng suốt của mình. Gorbachev cũng đã không thích nghi được bộ máy đảng cộng sản của ông, sự thay đổi tại Nga đã chỉ đến một cách khó khăn với sự đào thải của Đảng Cộng Sản Liên Xô khỏi chính quyền. Alexis de Tocqueville đã nhận định rằng mối nguy của một chế độ bạo ngược thường đến vào lúc mà nó tìm cách cải tiến. Đó là trường hợp của đảng cộng sản. Mọi cuộc thay đổi văn hoá đều không thể đến từ bên trong một trật tự có sẵn. Nó chỉ có thể đến từ những con người ngoài hệ thống đã đóng góp vào thay đổi và đã biết chuẩn bị trước để đúng hẹn với thay đổi.

*

Chúng ta sẽ nhìn rõ hơn tương lai của chế độ và rút ra một kết luận cho đất nước mình nếu chúng ta suy nghĩ một cách bình tĩnh về giai đoạn cộng sản đang chấm dứt. Đất nước ta từ ngày thành lập vẫn chỉ đặt nền tảng trên một văn hoá duy nhất : văn hoá Khổng Giáo giáo điều và độc đoán. Sau thế chiến II chúng ta có một cơ hội để giành độc lập và thiết lập dân chủ. Nhưng chuyển hoá về dân chủ đòi hỏi một thay đổi văn hoá lớn và một đoạn tuyệt dứt khoát và toàn diện với văn hoá Khổng Giáo. Chúng ta đã không có nổi bước nhảy vọt đó bởi vì chúng ta không có những nhà tư tưởng để hướng dẫn. Các trí thức của chúng ta đã chỉ nghĩ đến cải thiện Khổng Giáo, đa số còn kêu gọi giữ gìn văn hoá truyền thống. Có thể chúng ta không ý thức được nhưng chủ nghĩa cộng sản đã đến đúng như chúng ta mong muốn. Dù nhiều người có thể không đồng ý, nhưng chủ nghĩa cộng sản đã là một cải tiến lớn theo chiều hướng tốt của Khổng Giáo. Nó đã đem vào những giá trị dân chủ và nhân quyền, dù ở một mức độ rất thấp so với yêu cầu của đất nước. Chế độ cộng sản như vậy là một giai đoạn chuyển tiếp tự nhiên từ Khổng Giáo sang dân chủ. Cộng sản không phải là một tai họa từ trên trời rơi xuống hay từ dưới đất mọc lên. Nó từ chúng ta mà đến và chúng ta đã xứng đáng với nó.

Một khi những đam mê và xúc động đã qua đi, các thế hệ mai sau sẽ nhìn giai đoạn cộng sản như một giai đoạn chuyển tiếp đáng tiếc mà trách nhiệm không phải chỉ thuộc về những người cộng sản. Trong chiều dài lịch sử, ngày 30-4 sẽ là một ngày để suy nghĩ.

Giai đoạn chuyển tiếp này đã kéo dài quá lâu và đã gây thiệt hại quá nhiều. Nó phải chấm dứt nhưng sự cáo chung của nó chỉ có ý nghĩa và cũng chỉ đáng mong muốn nếu để mở ra một kỷ nguyên dân chủ. Và muốn thế chúng ta cần một cố gắng tư tưởng vĩ đại để đạt tới một văn hoá dân chủ. Không có một cuộc vận động chính trị nào thành công nếu không được chuẩn bị trước bởi một cuộc vận động văn hoá. Chúng ta đã làm cố gắng này chưa và đã làm tới đâu rồi? Chúng ta đã có bao nhiêu người dân chủ chân chính? Dân tộc Việt Nam chắc chắn là muốn dân chủ và cũng xứng đáng để có dân chủ không kém nhiều dân tộc khác, nhưng chính trị ở nước nào và thời nào cũng chỉ là quan tâm và hoạt động của thiểu số tích cực. Vào thời điểm này chưa thể nói chúng ta đã có một văn hoá dân chủ và một đội ngũ dân chủ mà đất nước đòi hỏi.

Nguyễn Gia Kiểng
Thông Luận, số 148 (tháng 5-2001)
 

Cách Mạng/CSVN bao nhiêu % sự thật?

noreply@blogger.com (Danlambao 2012) tại Dân Làm Báo - 14 phút trước
*Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - *“Quốc Khánh 2015” - Như là một khẩu hiệu, đảng CSVN tung hô với toàn dân là: *"Cách mạng tháng Tám, quốc khánh 2/9 biểu tượng tuyệt vời của sức mạnh Việt Nam. Ngày nay vị thế Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế mới và lực mới”* (thông tấn xã/vn)… Trong tiếng tung hô điên loạn ấy chúng ta đối chiếu xem khẩu hiệu này chính xác được bao nhiêu% so với thực tế!?. Những lời nói thật không thể chối bỏ *Từ trái qua: Tướng Trần Độ, ông Nguyễn Minh Cần, ông Bùi Tín* 1) Tướng... thêm »

‘An ninh VN phản động theo đúng nghĩa’

Việt Nam Thời Báo (IJAVN) tại Việt Nam Thời Báo - The Vietnam Times - Hội nhà báo độc lập Việt Nam - 15 phút trước
* An ninh Việt Nam trả tự do cho ông Quang A sau khi câu lưu 15 giờ.* *Tiến sỹ Nguyễn Quang A kể lại những gì xảy ra khi bị an ninh Việt Nam ép “làm việc” tại cửa khẩu sân bay Nội Bài.* Ông Quang A cũng mô tả về việc nhận ra hai người mặc thường phục “định hành hung” ông chính là những người đã đánh một số người đi đón và đợi ông ở nhà ga Nội Bài. Đăng trên facebook của mình vào khoảng 12:00 trưa ngày 02/09, Tiến sỹ Nguyễn Quang A nói về “chiêu bắt cóc người quen thuộc của an ninh” khi an ninh bảo hộ chiếu của ông “hết hạn” và mời vào trong để xem có hết hạ... thêm »