Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2013

thiền đăng loạn tự...ủ..tiêu sầu !: 50/50: ha nguyenthanh :                 50/50   Tối không  ai rủ nhậu. Mình quyết định..đi họp chi bộ ! nghĩ vậy nhưng cũng ráng click thêm ...
thiền đăng loạn tự...ủ..tiêu sầu !: Quê Choa: Những đám đông tháng Mười.: Cánh Cò Th...: Quê Choa: Những đám đông tháng Mười. : Cánh Cò Theo canhco's blog   NQL :Đây là bài viết hay nhất trong tháng mười, cũng có thể là...

Chống tham nhũng: đả hổ, đập ruồi?

Nguyễn Quang A
Mấy ngày qua báo chí Việt Nam rầm rộ đưa tin trên diễn đàn Quốc hội hàng loạt đại biểu quốc hội Việt Nam bàn về chống tham nhũng đã đòi hỏi phải “đánh cả hổ lẫn ruồi” với hàm ý “hổ” là quan to tham nhũng lớn, “ruồi” là quan nhỏ tham nhũng vặt. Liệu đả hổ đánh ruồi có giảm giải quyết được nạn tham nhũng?
Thực ra, cách nói đả hổ đánh ruồi đã được Mao Trạch Đông dùng trong chống tham ô từ các năm 1950 ở Trung Quốc. Suốt từ đó đến nay các vị lãnh đạo Trung Quốc kế vị nhau đều đã lên tiếng và đưa ra các chính sách quyết liệt theo kiểu “đả hổ đánh ruồi” tuy không nhấn mạnh đến các từ này. Đả hổ đánh ruồi lại rộ lên ở Trung Quốc từ tháng 3 năm nay khi ông Tập Cận Bình nhậm chức Chủ tịch Trung Quốc sau khi đã trở thành lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc mấy tháng trước đó, và chống tham nhũng là một chính sách ưu tiên của ông (cũng như của bao đời lãnh đạo Trung Quốc khác).
Như thế ý tưởng của nhiều đại biểu quốc hội Việt Nam cũng cũ lắm rồi! Hãy không bàn về khía cạnh “lệ thuộc tư duy” hay “ăn theo nói leo” theo cách nói dân dã, mà chỉ xét về tính hiệu quả của phương sách “đả hổ đánh ruồi” trong chống tham nhũng.
Tại Trung Quốc từ Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, đến Hồ Cẩm Đào đã đều quyết liệt chống tham nhũng và dẫu được nhấn mạnh hay không thì phương thức “đả hổ đánh ruồi” đã đều được áp dụng. Nhiều “con hổ”, Bộ trưởng thậm chí ủy viên Bộ chính trị, đã bị trừng trị và cơ man nào là “ruồi” đã bị diệt, nhưng tham nhũng vẫn là vấn đề sống chết của chế độ. Chính việc ông Tập Cận Bình phải sử dụng lại cách nói này của Mao đã minh chứng cho vấn đề tham nhũng không được giải quyết ở Trung Quốc.
Liệu phương sách đó có mang lại kết quả quyết định? Chắc chắn phong trào ấy có tác dụng răn đe, nhưng nhất định không có kết quả quyết định trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Bởi vì nó không giải quyết được nguyên nhân chính của tham nhũng: độc quyền quyền lực. Tham nhũng luôn gắn với quyền lực. Không thể xóa bỏ tham nhũng chừng nào còn có quyền lực, và quyền lực sẽ còn cần cho loài người chí ít vài chục ngàn năm nữa! Chỉ có thể đấu tranh để làm giảm tham nhũng. Quan trọng nhất là có cơ chế để nhanh chóng phát hiện ra tham nhũng, trừng trị những kẻ tham nhũng, tạo ra những khuyến khích để người ta khó và phải tính toán cẩn trọng khi tham nhũng. Nói cách khác tham nhũng là vấn đề thể chế, là vấn đề của hệ thống. Chỉ có cải cách thể chế, xây dựng nền dân chủ thật sự, đảm bảo tự do ngôn luận, xây dựng một xã hội dân sự lành mạnh, đảm bảo các quyền tự do, các quyền con người, và có nền pháp trị nghiêm minh cùng với sự kiềm chế sự lạm dụng quyền lực (mà sự độc lập và kiềm chế lẫn nhau của 3 nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp là một cách tuy không hoàn hảo nhưng loài người chưa tìm ra cách tốt hơn) mới là phương sách tốt nhất để đấu tranh phòng chống tham nhũng. Ngược lại, thì đả con hổ này sẽ sinh ra những con hổ khác, đánh lũ ruồi này lại có thêm những lũ ruồi khác, như lịch sử đã cho thấy.
Cho nên “đả hổ đánh ruồi” không phải là cách hữu hiệu trong chống tham nhũng. Chính vì thế, không nên thấy người ta nói, mình cũng họa theo, bởi vì nó chỉ chứng tỏ sự nông cạn về tư duy và thậm chí tạo cơ hội cho việc suy luận về sự không độc lập, sự lệ thuộc về tư duy, thậm chí về việc lạm dụng cách đó để hạ bệ lẫn nhau trong đấu đá tranh giành quyền lực.
 ————-
02/11/2013 06:42

Bàn về “đả hổ đánh ruồi”

Dân Việt - Mấy ngày qua báo chí đưa tin trên diễn đàn Quốc hội nhiều đại biểu khi bàn về tình hình phòng chống tham nhũng đã đòi hỏi phải “đánh cả hổ lẫn ruồi” với hàm ý “hổ” là quan to – tham nhũng lớn, “ruồi” là quan nhỏ – tham nhũng vặt.
Liệu “đả hổ đánh ruồi” có giảm, có giải quyết được nạn tham nhũng? Thực ra, cách nói “đả hổ đánh ruồi” đã được Mao Trạch Đông dùng trong chống tham ô từ những năm 1950 ở Trung Quốc. Suốt từ đó đến nay các vị lãnh đạo Trung Quốc kế vị nhau đều đã lên tiếng và đưa ra các chính sách quyết liệt theo kiểu “đả hổ đánh ruồi” tuy không nhấn mạnh đến các từ này. “Đả hổ đánh ruồi” lại rộ lên ở Trung Quốc từ tháng 3 năm nay khi ông Tập Cận Bình nhậm chức Chủ tịch Trung Quốc. Và chống tham nhũng là một chính sách ưu tiên hàng đầu của ông Tập Cận Bình.
Như thế ý tưởng của nhiều đại biểu Quốc hội Việt Nam cũng không có gì mới! Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rõ nét hơn về tính hiệu quả của phương sách này trong chống tham nhũng.
Tại Trung Quốc, từ Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân đến Hồ Cẩm Đào đều đã quyết liệt chống tham nhũng và dẫu được nhấn mạnh hay không thì phương thức “đả hổ đánh ruồi” đều đã được áp dụng.
Nhưng có một câu hỏi cần đặt ra:?Liệu phương sách đó có mang lại kết quả quyết định? Chắc chắn phong trào ấy có tác dụng răn đe, nhưng chưa chắc đã có kết quả quyết định trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Quan trọng nhất là có cơ chế để nhanh chóng phát hiện ra tham nhũng, trừng trị những kẻ tham nhũng, tạo ra những khuyến khích để người ta khó và phải tính toán cẩn trọng khi tham nhũng. Bên cạnh đó, chỉ khi xây dựng hệ thống luật pháp đầy đủ, minh bạch các vấn đề, xây dựng một xã hội dân sự lành mạnh, có nền pháp trị nghiêm minh cùng với sự kiềm chế sự lạm dụng quyền lực (mà sự độc lập và kiềm chế lẫn nhau của 3 nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp là một cách tuy không hoàn hảo nhưng loài người chưa tìm ra cách tốt hơn) mới là phương sách tốt nhất để đấu tranh phòng chống tham nhũng.
Cho nên “đả hổ đánh ruồi” chưa chắc đã là cách hữu hiệu trong chống tham nhũng. Bởi nó chỉ triệt tiêu một hiện tượng, sự việc cụ thể chứ chưa xoáy sâu tới bản chất của nạn tham nhũng.
Nhưng trong một chừng mực nào đó, khi cuộc chiến chống tham nhũng vẫn là ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước, vẫn phải coi “đả hổ đánh ruồi” là một giải pháp cần thiết và bức thiết. Làm được điều này đồng nghĩa với việc thể hiện quyết tâm chống tham nhũng quyết liệt hơn của cả hệ thống chính trị, lấy lại phần nào niềm tin của nhân dân.
Nguyễn Quang A

02-11-2013

Tham ô, lãng phí, “Quốc hội luôn tự cho mình là vô can"

 Minh Thúy
Đại biểu Dương Trung Quốc nói, Quốc hội phải liên đới trách nhiệm trong những sai phạm của bộ máy hành pháp...

“Quốc hội và đại biểu Quốc hội luôn tự cho mình là vô can trong những sai phạm của bộ máy hành pháp. Theo tôi, Quốc hội phải liên đới trách nhiệm!”, đại biểu Dương Trung Quốc khép lại hơn một ngày thảo luận về tình hình kinh tế xã hội tại nghị trường, sáng 1/11.


Trước đó, hơn 60 vị đại diện cho dân đã đăng đàn, vừa bày tỏ chính kiến, vừa phản ánh tâm tư của cử tri. Nhiều vị không ngần ngại “đòi” địa chỉ trách nhiệm về những hạn chế, yếu kém kéo dài của nền kinh tế cũng như các vấn đề xã hội.

Song theo nhận xét của một số vị đại biểu dày dạn kinh nghiệm nghị trường, thì khá nhiều thời gian đã được dành để lặp lại hoặc minh họa báo cáo, thay vì tranh luận để tạo ra được sự thống nhất trong nhận định, đánh giá chung về nền kinh tế cũng như giải pháp cho thời gian tới.

Nhà sử học Dương Trung Quốc nhận xét, báo cáo của Thủ tướng tại kỳ họp này không chỉ nhìn lại công việc của Chính phủ trong một năm vừa qua, mà của cả 3 năm đầu của kế hoạch 5 năm (2011-1915).

“Chặng đường đầy thử thách này được Thủ tướng đánh giá là đã vượt qua những thời kỳ khó khăn nhất, đã tạo được sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô, kiểm soát được lạm phát, đạt được nhiều chỉ tiêu, ứng phó với thiên tai, quan tâm an sinh xã hội... Chúng ta ghi nhận những nỗ lực đó. Tuy nhiên để cho những nỗ lực trong thời kỳ tiếp theo phát huy hiệu quả tích cực, cái còn thiếu, cũng có nghĩa là cái Chính phủ cần quan tâm là gây dựng và cùng cố lòng tin của nhân dân”, ông Quốc nói.

Theo ông Quốc, vẫn còn quá nhiều cái khiến lòng tin của nhân dân không những chưa xác lập mà còn bị giảm sút. Trong khi nhân tố bền vững nhất tạo dựng của lòng tin của nhân dân đối với nhà nước là nhận thức tự giác của họ qua thực tiễn đời sống chưa được quan tâm đúng mức.

Cũng như một số vị đại biểu khác, ông Quốc cũng nhấn mạnh “sự kiện” lần đầu tiên Chính phủ phải đặt vấn đề Quốc hội xem xét chấp thuận mức bội chi ngân sách nhà nước năm 2013-2014 là 5,3%GDP và “phát hành thêm trái phiếu Chính phủ trong trần nợ công cho phép”…
 
Những nội dung này chỉ được trình bày trong vài dòng của một trong những “giải pháp chủ yếu” là “tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát” ở trang 15 của báo cáo, nhưng phải đây coi là một dấu ấn lịch sử của Chính phủ và Quốc hội vì nó là lần đầu tiên, mà đã là lần đầu tiên thì cũng có thể sẽ trở thành một tiền lệ để nó không còn là lần cuối cùng, đại biểu Quốc nhấn mạnh.

Nhấn mạnh nhiệm vụ “giữ tay hòm chìa khoá” cho nhân dân của Quốc hội, đại biểu Quốc cho rằng, hiệu qủa sử dụng ngân sách trước tiên thuộc về Quốc hội, và Quốc hội phải chịu trách nhiệm trước nhân dân như người được uỷ thác. Còn Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội.
 
“Trong khi đó, trên thực tế ở nước ta, mọi thất thoát, lãng phí hay tham ô ngân sách của nhà nước, chúng ta chỉ dồn hết trách nhiệm vào Chính phủ. Quốc hội và đại biểu Quốc hội luôn tự cho mình là vô can trong những sai phạm của bộ máy hành pháp. Theo tôi, Quốc hội phải liên đới trách nhiệm!”, ông Quốc tỏ rõ chính kiến.

Quan điểm của nhà sử học này, là phải coi những đề nghị về mức bội chi ngân sách của Chính phủ như một dự án được tính toán chi ly. Và số tiền này phải được thể hiện cụ thể là bao nhiêu, bằng những con số tuyệt đối, chứ không chỉ căn cứ vào những chỉ số phần trăm. Đồng thời, cũng cần làm rõ cơ sở khoa học và khả thi của những chỉ số đó.

Quyết định về việc Chính phủ đề nghị, theo ông là không đơn giản, bởi “với cơ cấu của Quốc hội Việt Nam, số người am hiểu về kinh tế, chi tiêu ngân sách chủ yếu là những thành viên của bộ máy hành pháp tham gia Quốc hội, dễ thoả hiệp với Chính phủ; một số chuyên gia kinh tế am hiểu và đặc biệt là các ủy ban chuyên trách của Quốc hội có liên quan đến việc thẩm định báo cáo của Chính phủ và một số đông các đại biểu, trong đó có tôi, rất hạn chế hiểu biết về lĩnh vực quan trọng này”.

Nhưng dù thế, vị đại biểu này không ngần ngại nói thẳng là ông không thể chia sẻ việc một số đại biểu đơn giản bày tỏ sự ủng hộ Chính phủ với những lời dặn dò như chỉ dùng vào việc này, không đựoc dúng vào việc kia... Theo ông, nó phải được xử lý như một dự án lớn với những phương án thu chi và việc giám sát thật chặt chẽ và minh bạch. Chính phủ cũng phải cam kết trách nhiệm về hiệu quả của việc sử dụng khoản ngân sách đặc biệt đó.

Cùng nỗi lo của không ít đại biểu về kỷ luật tài chính, đại biểu Quốc cho rằng, trong ký ức của nhân dân vẫn còn nóng hổi biết bao nhiêu tài sản trong đó có cả những tín phiếu Chính phủ phát hành quốc tế đã thất thoát cùng Vinashin. Rồi những món tiền khổng lồ mà chỉ một người đứng đầu Vinalines có thể định đoạt để mua một khối sắt vụn theo giá “trên trời” để tham ô, một số cán bộ của một ngân hàng có vốn của nhà nước có thể  lừa khách hàng của mình hàng nghìn tỷ đồng một cách dễ dàng...

Và, “cho dù những vụ việc này sắp được đưa ra trước vành móng ngựa, thì lòng tin của nhân dân vẫn đòi hỏi Quốc hội chúng ta phải cẩn trọng hơn nữa, không phải là bó tay Chính phủ, mà là ủng hộ Chính phủ bằng chính trách nhiệm của mình”.

Bởi vậy, trước khi kết thúc 7 phút phát biểu, đại biểu Dương Trung Quốc nhắc lại: “Cái đầu tiên không có nghĩa là cái cuối cùng và rất có thể sẽ tạo thành tiền lệ. Quốc hội phải chịu trách nhiệm nếu để Chính phủ sử dụng ngân sách không có hiệu quả”.

NVP: Cần nắm những gì?

NVP: Cần nắm những gì?: Hỏi đáp về TPP Cần nắm những gì? Cho đến nay với nhiều doanh nghiệp, Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP) vẫn còn là m...

Góp ý trước thềm phán quyết – sửa đổi Hiến pháp 1992

PGS. Đào Công Tiến
Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam
Nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ
Nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TP.HCM

Kính thưa Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng và quý vị Đại biểu Quốc hội khóa 13
Chương trình nghị sự đối với việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, tại kỳ họp thứ sáu của Quốc hội khóa 13 đã qua “vòng 1” – nghe giải trình và thảo luận Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Việc còn lại của sự lựa chọn và phán quyết đối với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 là công việc hết sức quan trọng, nhưng vô cùng khó khăn vì còn nhiều khoảng cách khác nhau cho sự lựa chọn đó, đòi hỏi Đại biểu Quốc hội tiếp tục suy tư, trăn trở để xác định lời giải cho mình về những vấn đề lớn của dân của nước đặt ra đối với sửa đổi Hiến pháp.
Trên tinh thần đó, tôi xin được tiếp tục chia sẻ với những ý kiến góp ý sau đây với Đại biểu Quốc hội.
1. Việt Nam là một đất nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời. Các dân tộc Việt Nam là một khối thống nhất, đều bình đẳng, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, đảng phái.
Vì thế, Hiến pháp phải khẳng định mạnh mẽ lập trường chủ quyền đối với một đất nước độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và lập trường dân tộc với khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam là chủ thể của chủ quyền đó.
Điểm quy chiếu xuyên suốt của lập trường dân tộc như đã đề cập ờ trên là thực thi quyền con người, quyền Dân sự và Chính trị của công dân.
Hơn 65 năm qua, với 4 Hiến pháp và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân có được đề cập như liệt kê những quyền cơ bản, nhưng những chuẩn mực cần có chưa được làm rõ, nhất là quyền trong sự gắn kết với nghĩa vụ bị nghĩa vụ lấn lướt làm mờ nhạt, thậm chí còn bị vô hiệu hóa.
Điều 33 (sửa đổi bổ sung điều 58 của Hiến pháp hiện hành) thừa nhận quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, nhưng thiếu chế tài đề bảo vệ nguồn thu nhập hợp pháp đó tránh khỏi sự bòn rút bởi những biến động của giá, lương, thuế, phí làm cho thu nhập trên thực tế trở thành thu nhập không đủ sống (ngay cả với mức sống tối thiểu).
Những Hiến định về quyền con người, quyền Dân sự và Chính trị của công dân cần thể hiện những quy định và chuẩn mực quốc tế, nhất là với Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hợp Quốc, công bố ngày 10/12/1948 và công ước quốc tế về những quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam đã ký tham gia ngày 24/09/1982.
2. Chế độ chính trị mà Việt Nam chọn đưa vào Hiến pháp, xin đề nghị là Cộng hòa hoặc Cộng hòa Dân chủ, chứ không phải Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa (như Hiến pháp 1992 và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992) vì tinh thần của nền cộng hòa sáng rõ và đầy sức thuyết phục, còn XHCN có nhiều nội hàm không phù hợp, không đúng, gây ra nhiều bất ổn cho tiến trình phát triển và hoàn thiện xã hội. Với chế độ chính trị là Cộng hòa hoặc Cộng hòa Dân chủ đề nghị đổi tên nước từ “Cộng hòa XHCN Việt Nam” thành “Việt Nam Cộng hòa” hoặc “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” (như Hiến pháp 1946).
Sứ mạng và tầm nhìn của chính thể Cộng hòa hoặc Cộng hòa Dân chủ là bảo vệ độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Sự lựa chọn và thay đổi này phù hợp với tinh thần cộng hòa theo tư duy Hồ Chí Minh, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng tuyên bố trước quốc dân, đồng bào, đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè trên thế giới qua Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 và Hiến pháp năm 1946.
Sự thay đổi này cũng phù hợp với nhận thức mới về học thuyết Mác – Lênin và Chủ nghĩa Xã hội đã được cuộc sống kiểm định và phán xét về sự không phù hợp và không đúng của nó. Và trên thực tế nó đã không vượt qua được khủng hoảng và sụp đổ bởi nguyên nhân tự thân của nó.
3. Nhà nước của nước Việt Nam Cộng hòa hoặc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân với khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, chứ không phải của giai cấp công nhân hoặc giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là nền tảng (như Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992).
Nhà nước của nước Việt Nam Cộng hòa hoặc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước pháp quyền tam quyền phân lập, chứ không phải nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (như Hiến pháp 1992 và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992). Các nhánh quyền lực nhà nước – lập pháp, hành pháp, tư pháp – phải được phân định rạch ròi theo chức năng, nhiệm vụ của nó. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm và quyền hạn tương thích với chức năng nhiệm vụ ở các nhánh phải hoạt động độc lập, không ỷ lại, dựa dẫm vào nhau và cũng không để cho tổ chức và cá nhân bất kỳ nào can thiệp, chi phối, nhất là đối với hệ thống tư pháp phải được xét xử độc lập trên cơ sở Hiến pháp và luật.
Sự phân định rạch ròi đó cũng tạo chuẩn mực để các nhánh quyền lực nói riêng và các tổ chức chính trị, xã hội khác nói chung ràng buộc, chế ước lẫn nhau nhưng không chi phối theo kiểu vượt thẩm quyền hoặc độc quyền quyền lực.
4. Ở điều 4 của Hiến pháp 1992 và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, nên bỏ những phần nói cụ thể về Đảng Cộng sản Việt Nam và “Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, và thay vào đó là những hiến định về đảng cầm quyền.
Đảng cầm quyền là Đảng tôn trọng chủ quyền quốc gia, dân tộc Việt Nam, tôn trọng Hiến pháp và pháp luật, được nhân dân tín nhiệm, người của đảng được nhân dân bầu chọn, đưa vào bộ máy nhà nước của dân, do dân, vì dân qua các cuộc bầu cử thật sự tự do, dân chủ có sự sàng lọc của cạnh tranh chính trị trong môi trường đa nguyên, đa đảng.
5. Với tầm của Hiến pháp, cần có quyết sách đúng và rõ ràng về chủ quyền và quyền sở hữu đất đai.
Đất với tư cách là lãnh thổ, là tài nguyên và là cảnh quan môi trường tự nhiên, thuộc chủ quyền quốc gia và quyền của chủ quyền đó là của toàn dân và Nhà nước được trao quyền đại diện chủ quyền.
Đất được đưa vào khai thác, sử dụng còn là sản phẩm của lao động (cả lao động cha truyền con nối) là tài sản hoặc bộ phận cấu thành tài sản (trong bất động sản), là tư liệu sản xuất (trong sản xuất nông nghiệp) của người dân và các chủ thể sản xuất kinh doanh nhất định, lẽ ra phải được cư xử như những tài sản, những tư liệu sản xuất như đã đề cập ở điều 33 của dự thảo. Ở đó quyền sở hữu tư nhân được thừa nhận và bảo hộ bên cạnh sở hữu nhà nước và tập thể.
Hiến pháp 1980 và 1992 không thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai, đã gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế và bất ổn xã hội. Thiết nghĩ, đã đến lúc phải sửa đổi. Bên cạnh sự khẳng định tài nguyên đất thuộc chủ quyền quốc gia, toàn dân tộc, Hiến pháp phải thừa nhận và bảo hộ sở hữu tư nhân về đất đai bên cạnh sở hữu nhà nước và tập thể.
Đất đai là tài sản có chủ thể sở hữu rõ ràng, trong kinh tế thị trường việc dịch chuyển quyền sở hữu được thực hiện dưới hình thức mua bán là tất yếu. Nhà nước khi có nhu cầu vì quốc kế dân sinh thường phải trưng mua theo cơ chế và giá cả thị trường. Trong những trường hợp đặc biệt vì an ninh, quốc phòng có thể trưng thu đất nhưng phải có đền bù không để thiệt đối với người dân.
6. Mô hình kinh tế tổng quát, đã và đang được thể hiện trong Hiến pháp 1992 và bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, bị chi phối bởi chế độ kinh tế nặng về công hữu là nền tảng, kinh tế nhà nước là chủ đạo, đã không còn phù hợp phải thay đổi trong tu chỉnh Hiến pháp kỳ này.
Để tạo điều kiện và khuyến khích huy động mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực trong dân để chấn hưng kinh tế và an sinh xã hội, thì không thể không bình đẳng trong hiến định về cách ứng xử đối với các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp.
Vẫn tiếp tục xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo như trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 là không phù hợp với tinh thần bình đẳng và lẽ công bằng mà Hiến pháp cần có.
Tác giả của bản dự thảo còn cho rằng “Quy định (kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo) như vậy để thể hiện hạ tầng kinh tế của chế độ XHCN ở nước ta”. Vậy trong mối quan hệ giữa hạ tầng kinh tế và thượng tầng kiến trúc chế độ XHCN cái nào quyết định cái nào? Sẽ không có sự biện minh nào cho việc đi ngược lại quy luật của tác giả bản dự thảo.
Chế độ XHCN ở Việt Nam là cái gì, mà bắt hạ tầng kinh tế phải theo để thể hiện? Thiết nghĩ, ngoài những ý tưởng nhân văn vốn là khát vọng của loài người tiến bộ, đã được các nhà sáng lập ra lý thuyết XHCN kế thừa và coi là sứ mệnh của CNXH, thì không còn cái gì đúng và phù hợp với cuộc sống đương đại. Mô thức tổ chức xã hội XHCN với những nội hàm: (1) Về tổ chức xã hội theo thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp, thực thi chuyên chính vô sản, lấy nhà nước vô sản chuyên chính thay cho nhà nước pháp quyền và quyền dân sự và chính trị của công dân; (2) Công hữu hóa tư liệu sản xuất và tạo lập vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được coi là giải pháp cách mạng XHCN đánh vào chế độ tư hữu, làm suy yếu khu vự dân doanh – cái gốc của nền kinh tế; (3) Không còn độc đoán chuyên quyền của giới chủ nô lệ, của vua quan và chúa đất, nhưng thâu tóm quyền lực của thể chế độc đảng lãnh đạo đã gây nhiều bất ổn xã hội. Trên thực tế quyền lãnh đạo của đảng đã trở thành siêu quyền đặt lên trên dân quyền và pháp quyền. Chế độ XHCN đó đã đi vào khủng hoảng và sụp đổ, nên không thể bất chấp quy luật mà bắt hạ tầng kinh tế phải tiếp tục tùng phục thượng tầng – chế độ XHCN.
Từ những điều đã trình bày ở trên, xin có mấy đề nghị sửa đổi liên quan đến mô hình kinh tế tổng quát cần được thể hiện trong Hiến pháp như sau:
Thay kinh tế thị trường định hướng XHCN bằng “kinh tế thị trường hiện đại” – đỉnh cao của sản xuất hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước vốn đã được chọn ngay từ đầu đổi mới.
Bỏ quy định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.
Mô hình kinh tế tổng quát cần được thể hiện trong Hiến pháp sửa đổi với những đặc trưng khái quát là: (1) Kinh tế thị trường hiện đại; (2) Đa dạng hóa sở hữu, thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp; (3) Không coi công hữu là nền tảng, kinh tế nhà nước là chủ đạo, mà chỉ cần xác định đúng mức vai trò quản lý của nhà nước pháp quyền đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam; (4) Thực thi dân chủ trong kinh tế, mà vấn đề cốt lõi là quyền của người dân và thực quyền kinh doanh của doanh nghiệp; (5) Liên kết và hợp tác quốc tế.
Những góp ý trên đây là ý kiến từ tấm lòng và ít nhiều của sự hiểu biết của một công dân có trách nhiệm với chuyện dân, chuyện nước. Rất mong được chia sẻ cùng quý Đại biểu Quốc hội.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 24/10/2013
Kính chào
Đ. C. T.

SỰ LỰA CHỌN KHI HÃNH DIỆN HAY XẤU HỔ?

Alan Phan

29/10/2013

Một người hãnh diện luôn “nhìn xuống” vật thể và người khác ; do đó, khi nhìn xuống, chúng ta không thể thấy bất cứ điều gì “bên trên” chúng ta (A proud man is always looking down on things and people; and, of course, as long as you are looking down, you cannot see something that is above you – C.S. Lewis)

Vài bạn đọc gởi đến tôi một bài viết có tựa đề là, “Đâu Là Nơi Duy Nhất Người Việt Nam Không Bị Khinh Bỉcủa một tác giả Việt Kiều. Sau khi chu du khắp thế giới và chịu đựng những khinh miệt vì lỡ “làm” người Việt, kể cả ở VN nơi mà các ông bà ba lô Mỹ trắng được yêu chuộng hơn, tác giả mới khám phá ra nơi duy nhất mà người Việt không bị khinh miệt là xứ Mỹ.

Bài viết chứa đựng những chi tiết khá chuẩn xác và phổ thông, mà mọi người đều đã cảm nhận không ít thì nhiều khi tiếp cận với thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, tôi lại cho rằng những vụ việc kể lại có thể nhìn qua một lăng kính khác, mà không cần đem yếu tố dân tộc liên quan vào.

Cho tôi vắn tắt: những khinh khi rẻ rúng mà các bạn Việt thường xuyên gặp phải, vốn bắt nguồn từ những nguyên nhân đơn giản trong đời sống hàng ngày của nhân loại qua nhiều thời đại; chứ không phải là một hiện tượng đặc thù của dân tộc ta.

Tự hào ngược đời

Tuy nhiên, trước khi phân tích các yếu tố này, tôi muốn ghi nhận một nghịch lý (có lẽ là một phản ứng thì đúng hơn). Đó là càng bị chê bai khinh thị, con người càng bị tự ái làm mờ mắt và “chảnh” hẳn ra, ngôn ngữ thời đại gọi là “lòng tự hào” đi quá đà về mặt tâm thần (đến tận đỉnh cao). Thắng được một giải bóng đá do hãng bia địa phương tổ chức là sẵn sàng để vào chung kết với Brasil trong World Cup năm tới. Vừa được 2, 3 tờ báo lề phải gọi là siêu sao (mà mình phải bỏ tiền cho chúng viết) là mang niềm tin chắc nịch về vương miện Miss Universe đang thiết kế cho mình. Tôi còn nhiều thí dụ rất thú vị, nhưng dành cho các BCA “còm” chơi, và cũng vì không muốn chạm tự ái của ai.

Một yếu tố khác mà tác giả ghi nhận là chỉ có ở xã hội Mỹ, con người Việt của ông mới không hề bị xúc phạm. Thực ra, trong một quốc gia luôn thượng tôn pháp luật như tại Mỹ, việc kỳ thị chủng tộc là một hành vi phạm pháp. Thêm vào đó, từ hồi luật nhân quyền (civil rights) được ban hành (1964), xã hội Mỹ đã biến cải rất nhiều trong tâm thức người dân về chủng tộc hay tôn giáo. Khi dân Mỹ chọn Obama làm Tổng Thống, gần như trang sử Mỹ về kỳ thị mầu da coi như đã khép lại. Nhưng không có nghĩa là người dân Mỹ không kỳ thị.

Mặc dù cảnh sát Mỹ luôn gọi mọi người là “sir” (ngài), các tội phạm vẫn thường xuyên bị dùi cui mỗi khi “khó bảo”. Trong mắt nhân viên công lực Mỹ, tỷ lệ phạm pháp của dân da đen hay dân gốc Mễ rất cao, do đó đây là thành phần cần được nhắm tới (targeted) trong công vụ hàng ngày. Họ hoàn toàn không kỳ thị chủng tộc (một bộ phận không nhỏ lập gia đình với người Mỹ đen hay gốc Mễ), nhưng cách đối xử của họ với dân đen hay gốc Mễ chắc chắn là “rough” so với một anh chị Mỹ trắng.

Việt cồ hay vịt con?

Quay lại những yếu tố mà tôi cho là làm người Việt cảm thấy bị khinh miệt, tôi có thể suy ngẫm ra…vài điều sau đây. Xin nói rõ là trong bài “phiếm luận” này, tôi không hề vơ đũa cả nắm; bởi vì những thành quả vẻ vang của nhiều cá nhân Việt là một sự kiện không ai chối bỏ.

1.      Nghèo là một cái tội

Dĩ nhiên, nghèo không phải là một “tội”; nhưng gần như khắp thế giới, nghèo vẫn bị coi như là “đáng xấu hổ”. Cái thước đo “nhân cách” con người, tốt hay xấu, thiện hay ác, không liên quan đến chuyện giầu nghèo, nhưng nhân loại vẫn thích đem yếu tố này vào để xác định. Do đó, nếu đã đồng ý là “dân giàu nước mạnh” thì đừng ngạc nhiên khi các quốc gia và dân tộc láng giềng cho chúng ta là “dưới kèo” vì cái con số GDP mỗi đầu người không dấu ai được.

Ông bà ta có dậy rằng “nghèo cho sạch, rách cho thơm” nhưng nếu chúng ta mở rộng đầu óc hơn để tập làm “giàu mà sạch, lành mà thơm” thì chúng ta đã có thể thay đổi khá nhiều cho nhân cách và giá trị của con người Việt.

2.      Kiến thức tụt hậu và suy thoái

Rất nhiều bạn trẻ khi lập gia đình hỏi tôi về điều kiện bền vững nhất trong một hôn nhân về lâu về dài? Tôi nói,” đừng bao giờ lấy một người ngu…nhất là khi người ngu ấy rất “kiên định” về lập trường ngu của mình…”. Tình yêu, sắc dục, tiền bạc, danh giá và ngay cả nhân cách có thể bị phai mờ biến thể…nhưng kiến thức thì ngàn đời. Nhất là trong thời buổi của tiến bộ vượt tốc…những gì nhân loại nắm biết trong 50 năm vừa qua nhiều hơn cả 5 ngàn năm trước đó.

Khi tóc đã điểm sương, con cái đã rời tổ ấm, của cải danh tiếng đã trôi đi cùng dâu biển…không gì tệ hại hơn là ngồi tỉ tê tâm sự với một cái đầu đất. Do đó, khi các bạn trên thế giới nhìn mình với cặp mắt thương hại …vì một sự ngu dốt tập thể…thì ít nhất cũng nên biết đau xót…thay vì hãnh diện ngược đời.

3.      Thường xuyên phạm luật

Như những nhân viên công lực Mỹ đã bàn qua bên trên, khi họ phải đối diện hàng ngày với những vi phạm pháp luật từ một thành phần dân số, họ sẽ xếp loại nhanh chóng thiểu số này để đối phó cho hữu hiệu. Tại các quốc gia mà “pháp luật nằm trong tay cảnh sát” thì cách đối xử với người Việt quả là có sự khác biệt: các tin tức về nạn ăn cắp tại các cửa hàng bên Nhật; tình trạng trồng và buôn bán ma túy tại Úc và Canada; các tổ chức xã hội đen tại Âu Châu; trốn thuế lường gạt tại Mỹ…là những hành động của thiểu số nhưng mọi người Việt phải trả giá…

Nếu khi đi qua cửa di trú hay hải quan mà bị “chận” lại vì mang hộ chiếu Việt, chúng ta nên hiểu là đồng hương chúng ta phạm luật hơi nhiều, nên các cơ quan công lực phải lưu tâm. Tôi không nghĩ là người Nhật hay Singapore yêu hay ghét người Việt, họ chỉ hành xử theo thói quen mỗi ngày.

4.      Bị ảnh hưởng Trung Quốc quá đậm

Cũng cùng chịu ảnh hưởng của văn minh Khổng Mạnh Lão, nhưng dường như người Việt đồng hóa với người Hán nhiều hơn là các dân tộc Hàn Quốc, Nhật Bản hay Mông Cổ. Thú thực, nếu bịt tai và tình cờ thức giấc tại một tỉnh nhỏ ở miến Bắc, tôi sẽ nghĩ mình đang ở một tỉnh nào bên Trung Quốc. Hiện nay, trên khắp thế giới, các chú “con Trời” không được ái mộ cho lắm vì lối xử sự hơi “nhà quê” dù mang tiếng là công dân của một siêu cường.

Do đó, nếu thiên hạ cho mình là những chú “Mao con”, thì phải ráng mà bắt chuột thôi. Mèo đỏ, mèo đen…mèo gì thì cũng là mèo.

Có thể có những yếu tố khác ngoài 4 yếu tố trên để giải thích sự kiện này. Có thể vì chúng ta nhiều anh hùng quá, nên nhân loại ganh tị và bầy trò thử thách? Có thể vì đất nước này tiền rừng bạc biển, nên nhân loại không chấp nhận để mình “xin-cho” mãi? Dù sao, tôi nghĩ là hiện tượng này còn kéo dài trong vài thập kỹ nữa vì chúng ta rất “kiên định” trong việc xây dựng một thiên đường mới (hay là một nhà thương điên?)

Vẫn do ta chọn lựa

Tôi chỉ xin chia sẻ với các bạn trẻ là đừng bực bội hay thất vọng. Vài chục phút bị rẻ rúng có thể là động lực bắt chúng ta cố gắng nhiều hơn để hoàn thiện bản thân mình. Nghĩ cho cùng, chỉ những anh chị đầu đất mới quan tâm là mình từ đâu “rớt ra”. Chúng ta chỉ nên lưu ý đến những chỗ chúng ta “cho vào”? Vì rớt ra là một tai nạn tình cờ của vài nguyên tử trong vũ trụ. Còn cho vào là một sự lựa chọn hoàn toàn có chủ đích. Chúng ta không được chọn tổ quốc hay gia đình hay nguồn cội; chúng ta chỉ phải chọn nhân cách, kiến thức và thành quả.

Tấm gương mình tự soi mặt mỗi sáng là niềm tự hào hay xấu hổ. Hình ảnh mình trong cặp mắt người khác chỉ là thoáng qua.


Alan Phan